MƯỜNG MÁN

 

TRONG KÍ ỨC XANH

 

Thời trai trẻ của tôi rơi vào thời điểm giữa những năm sáu mươi của thế kỉ trước. Thời tiết, khí hậu đời sống lúc ấy luôn bao trùm trong không khí bức bối, và cơ man nào là thanh âm chói chang của cuộc chiến tranh chưa biết bao giờ kết thúc. Ngày ngày ôm sách vở tới trường tâm thức không hề trong trẻo mà thường bị quấy nhiễu bởi bao ám tượng chết chóc bi thương. Bên cạnh tâm thức không mấy trong trẻo ấy, may thay, còn có cái gọi là tâm hồn mơ mộng, lãng mạn hồn nhiên, chẳng rõ nó có ngang cân đồng lượng với tâm thức nọ không, nhưng – suy từ tôi thôi, không dám khái quát thiên hạ phần đông – nó đã kì diệu như một loại thuốc an thần. Vốn mê đọc sách, tôi chọn thư viện làm nơi trốn mưa nắng những lúc rảnh rỗi, ngoài các tác phẩm văn chương trong nước, tôi đã tiếp xúc khá sớm với các tác phẩm văn học Âu Mỹ qua các bản dịch khá dồi dào. Vốn mê phim ảnh, tôi không bỏ sót bất cứ phim hay nào chiếu ở các rạp Châu Tinh, Lido, Tân Tân… Lang thang quán xá cà phê cà pháo hơn là tham gia các sinh hoạt cộng đồng. Không chú tâm lắm, tôi cũng đã thiết lập cho mình thế giới sống riêng. Từ mê đọc, tôi đâm ra phải lòng văn chương bao giờ chẳng hay.

Phải chăng thơ văn là đối trọng huyền ảo để hóa giải sự lo hãi chết chóc chiến tranh? Lớp trẻ chúng tôi hồi ấy mơ mộng ghê lắm, không riêng Huế tôi mà hầu khắp các tỉnh thành khác ở miền Nam các thi văn đoàn đua nhau mọc lên như nấm, mỗi bút nhóm đông đảo thì dăm mười người, chí ít thì hai hoặc ba mống. Từ “đoàn” trong thi văn đoàn nghe oai nhưng cũng thậm xưng đáo để. Yêu thích thơ văn là mẫu số chung, hầu hết các tác phẩm do các đoàn viên sáng tác chất phác, vụng về, phổ biến qua các “tạp chí” viết tay hoặc quay ronéo đóng tập chuyền tay nhau. Ngoài trao đổi thơ văn, thỉnh thoảng đoàn này gửi thư mời đoàn nọ gặp gỡ giao lưu văn nghệ ở một địa điểm núi non sông hồ thơ mộng nào đó.

Cố đô, Hoa mắc cỡ, Hoa mặt trời, Hoa cô độc, Phượng ngàn, Mây ngàn… tên các thi văn đoàn trong và ngoài thành nội, tả ngạn hữu ngạn sông Hương nghe hiền lành rất mực. Quê tôi thuộc vùng đầm phá Tam Giang, chỉ cách biển Thuận An chừng nửa lóng tay, sau lắm ngày bàn cãi, chúng tôi chọn cho bút nhóm gồm ba mống của mình cái tên thi văn đoàn Cuồng Biển nghe nổ giòn hơn sấm. Ngoài tôi và thằng bạn tên Hoài, thành viên thứ ba là một cây bút nữ. Được tôn làm sếp nhóm, Trần Thị Sim, bút danh Sim Trần luôn tỏ ra là người có trách nhiệm, chịu khó vận động các bạn văn bạn thơ trong làng ngoài xóm đóng góp bài vở cho Cuồng Biển, chịu khó thức đêm để hoàn thành các số tạp chí của nhóm bằng cách chép tay, đóng thành tập, rồi bằng mỹ nhân kế hay lo lót sao đó, có vài anh chàng sẵn sàng vì nàng mà gò lưng nhân tạp chí độc bản thành mươi, mười lăm bản. Những cái máy photocopy sống này không mấy ưa tôi, họ thường bực bội mắng lén tôi là con mọt sách rởm mà cứ ngông nghênh làm như sắp thành đại văn hào đến nơi. Tôi soi gương tìm mãi chẳng thấy mình ngông nghênh ở khoản nào, ngoại trừ đôi guốc mức kéo lê quanh năm trên mọi nẻo đường và đầu tóc biếng chải.

Sim Trần dịu dàng bao nhiêu thì thơ văn nó ướt át bấy nhiêu. Do cái bút danh ngồ ngộ, lắm phen Sim nộ khí xung thiên tung rần rật vô số cái nguýt và lườm muốn chém chúng tôi thành hàng nghìn mảnh khi bị gọi xỏ xiên Sim Trần thành Sim ở trần.

Cuồng Biển phát hành đều đặn mỗi tháng một số. Sau số 5, Sim tìm gặp tôi nhỏ nhẹ bảo:

– Ui chao ơi, vừa rồi bọn thằng Hưng con Thảo chuyền tay Cuồng Biển của mình răng đó bị thầy Hổ bắt gặp trong lớp…

– Rồi răng? – Tôi làu bàu. Con nhỏ chơm chớp đôi làn mi rậm:

– Thì bị thầy tịch thu chớ răng. Sim lo ghê! Thầy Hổ dạy quốc văn kiêm giáo sư hướng dẫn lớp Sim đó.

– Lo khỉ mốc, lo bò trắng răng.

Ngó bộ dáng tiu nghỉu cường điệu của con nhỏ tôi phát chán, yên chí trái đất vẫn tiếp tục quay theo chiều ngược kim đồng hồ, chẳng có gì đáng phải bận tâm. Năm hôm sau Sim đến trước cổng trường Nguyễn Tri Phương chờ tôi. Từ trường Bồ Đề của nó sang trường tôi gần xịch, lại thuộc lòng thời khóa biểu của nhau. Thoạt thấy Sim tôi chưng hửng:

   Nè, chờ thằng mô rứa?

   Thằng ni chớ thằng mô! – Sim dúi nhẹ nắm đấm mềm mại vào ngực tôi. Tôi nhăn mặt:

   Đồ ranh mương, nhỏ chút chun đã bày đặt đi tìm trai.

Con nhỏ thi triển tuyệt chiêu tung rần rật khoảng hai mươi cái nguýt và lườm:

   Có chuyện mới tìm chớ bộ. Về Cồn Hến ăn chè nghe!

Cồn Hến. Dựa xe đạp vào hàng rào chè tàu, hai đứa vừa ăn chè bắp kèm ánh chiều tà vừa ngắm nhìn các đôi cặp khác, thỉnh thoảng quay lại ngắm mình hình như thấy cũng hơi…đẹp đôi. Bằng cái giọng nhỏ nhẹ cố giấu sự nôn nao trong lòng, Sim Trần nói thầy Hổ đã trả lại tập Cuồng Biển, khen nhiều hơn chê.

   Chê? – Tôi vờ cau mày ra vẻ trịnh trọng. Sim mỉm cười:

   Chê nhất là bài thơ của ông. Thầy nói không ngờ một cậu học trò còn măng sữa như ông lại khoái làm thơ kiểu siêu thực bí hiểm như rứa. Thầy còn hỏi ai đặt tên cho nhóm mình là Cuồng Biển, Sim nói là ông. Thầy kêu cái tên ni không phù hợp lắm, chỉ hợp với mỗi bài thơ Buồn Thầm của ông thôi,chớ nội dung toàn tập thì không.

   Dễ thôi, đổi tên nhóm thành Mọi Biển đi!

   Bậy, thầy hứa sẽ làm cố vấn nếu mình chịu đổi tên nhóm. Chậc, thầy chịu cộng tác thì nhóm mình sẽ sang trọng hết biết.

Tôi bắt đầu nóng mũi. Sim găm cái nhìn đẹp vào chóp mũi tôi mong xoa dịu nó? Đoạn nó du dương nói:

   Cậu Hoài cũng đồng ý với Sim đổi tên nhóm theo ý thầy Hổ.

   Hiểu rồi! – Tôi đứng rột dậy kêu tính tiền chè rồi phóc lên xe đạp dông biến.

Dọc đường về tôi lẩm nhẩm lại bài Buồn Thầm của mình “in” trong Cuồng Biển số 5:

trăng ngự trên vai sương

sương mỉm cười nũng nịu

trăng rớt xuống lòng sương

sương âm thầm nhỏ lệ.

Thơ rứa mà cho là siêu thực bí hiểm ư? Tôi lắc đầu và tự dặn lòng không bao giờ chơi báo viết tay nữa. Lặng lẽ chia tay Cuồng Biển, cùng lúc tôi rời trường Nguyễn Tri Phương chuyển sang trường Quốc Học vào lớp đệ tam. Bẵng đi khá lâu, vào một ngày cuối năm tôi vừa qua khỏi một cơn cảm sốt thương hàn nặng rời bệnh viện về nhà trọ, Sim Trần đến thăm, tay cầm lăm lăm tờ tạp chí Văn ấn hành ở Sài Gòn mới ra lò nóng hổi, nó hào hứng lật ra trang thơ dịu dàng nhìn tôi, mủm mỉm cười, khe khẽ đọc:

 

NGỢI CA THÁNG CHẠP

 

tháng chạp về rồi bé thấy không

cỏ nép trong cây vẫy lá mừng

hồn anh vội vã giăng mưa bụi

rơi xuống cho vừa lạnh nhớ mong

 

tháng chạp về rồi bé thấy không

một chút màu xanh một chút hồng

một chút vàng mơ và tím nhạt

chưa giao thừa đã tết trong anh

 

tháng chạp về rồi bé nghe không

gió thôi làm rớt lá sầu đông

anh đem nắng nhốt vào đôi mắt

nung chảy tim thành vạn giọt sương

 

tháng chạp về rồi bé biết không

guốc mới ai khua ngõ nội thành

để cho rêu cũ, vàng son cũ

thức dậy buồn lên đỉnh phố xanh

 

tháng chạp về rồi bé biết không

không dưng lòng bỗng thấy băn khoăn

xé tờ lịch cũ vơi năm tháng

tình có phai dần theo tháng năm?

 

tháng chạp về rồi bé thấy không

anh nằm dưới cỏ nghe mùa xuân

nghe sông đổ nước xuôi ra biển

nghe biển phụ tình quên nước sông

 

tháng chạp về rồi bé vui không

xuân đem rượu cất ở trong lòng

trong men cứ ngỡ mình vừa thoáng

thấy bóng ai về trong nắng hanh.

 

Nghe xong bài thơ, lục phủ ngũ tạng tôi lập tức bị xâm chiếm bởi thứ cảm xúc khó đặt tên, lâng lâng khôn tả dẫu đó không phải là bài thơ đầu tiên của tôi được đăng báo, vui ở chỗ trước đây nó đã được Sim nắn nót viết trong Cuồng Biển số 1.

   Đứa mô mà có phước dữ rứa, được ông cho đi vô đi ra trong bài thơ ngọt như mía lùi? – Sim giả bộ lừ mắt. Tôi ỡm ờ:

   Sim ở trần chớ ai, cái đứa đã đá văng kẻ hèn này ra khỏi chòi văn Cuồng Biển.

   Thôi đừng sân si nữa, quay về với bọn ni đi. Trùng Dương chừ nổi đình nổi đám hơn Cuồng Biển xưa nhiều, thầy Hổ mát tay lắm lắm…

   Nghe thiên hạ đồn rằng không chỉ tay mà cái chi chi ở ông giáo sư đối với Sim cũng mát cả, đúng không?

Con nhỏ không tẽn tò như thiếu nữ phần đông khi ở tình huống bị trêu chọc tương tự mà cúi đầu nom buồn rất…tàn thu, khẽ đưa hai tay mỏng mảnh hệt hai nhánh lan quàng chéo che ngang bụng, khiến tôi kinh hãi ngầm, ngỡ rằng có một chú hổ con đang nẩy “mầm” trong ấy. Nín lặng giây lát đoạn cả hai cùng phá lên cười.

Đại để thế, dạo ấy hình như Sim Trần là vòng tay học trò của thầy Hổ!? Văn chương là mối tình đầu của tôi. Cuồng Biển là vuông cỏ hẹn thứ nhất, nơi ấy đã cho tôi những rung động câu cú, chữ nghĩa, vần điệu, ý tưởng, thi tứ…đầu đời thực nhất, đẹp nhất, và khó nguôi quên nhất. Ở miền Nam thời ấy thi văn đoàn là nơi xuất phát cho hành trình marathon văn nghệ của không ít anh chị em cầm bút, sau này khi đã thành danh, có tên tuổi trên văn đàn có người đã cố quên nó đi, riêng tôi thì luôn trân trọng, dành cho cái chiếu văn đầu tiên đã ghi dấu những bước chập chững ngây dại của mình một góc thật xanh trong kí ức.

M.M