MƯỜNG MÁN

TRONG BẢO TÀNG THỜI GIAN

 

Hạt vui chung lẫn hạt đau

Mải mê chọn nhặt bạc đầu không hay

 

Cuối thập niên 70 của thế kỷ trước, nơi đầu tiên tôi dừng chân trong bước đường phiêu dạt từ Huế vào miền tây Nam Bộ là nông trại thực nghiệm Ô Môn – gọi tắt là NTO – trực thuộc trường đại học Cần Thơ. Nông trại rộng 200 ha, có hai dãy lán dài làm bằng tre lá dọc bờ kênh, mùa khô gió lộng bốn bề, mùa nước hệt cái ốc đảo giữa đồng nước nổi mênh mông. Đây là điểm nhân giống các loại lúa mới, nơi cải tạo của các sinh viên nam nữ bị kỷ luật với 1001 tội danh khác nhau, bị cầm chân lao động chừng 1 hoặc năm rưỡi sau đó trở lại trường lớp, và là nơi sinh viên các khoa trồng trọt, chăn nuôi từ trường lên thực tập, lập các tiêu bản thực nghiệm, lấy số liệu làm luận văn tốt nghiệp, và sinh viên các khoa khác lao động tập thể theo lịch của trường.

Cán bộ công nhân viên biên chế ở trại chừng mươi người, vào mùa vụ đông ken phải thuê thêm nông dân đảm nhận các khâu cấy gặt. Giám đốc trại là một kỹ sư nông nghiệp xấp xỉ lục tuần, gầy y con khô mực chưa nướng, thường thích xuất khẩu thành thơ, thơ rặt giọng hài tếu nhưng ông đọc khá trịnh trọng, người nghe không dám bật cười vì sợ phải tội bất kính với nhà thơ lớn…tuổi. Ví dụ, trong bữa nhậu ngoài trời, thầy và trò ngồi quanh đống lửa ông nhìn con cá lóc đang nướng trui mà rằng: Ôi nóng thế sao mày ngậm miệng. Không kêu lên một tiếng má ơi. Xưa nhỏ xíu ròng ròng bơi lội. Nay đổi tên thành cá nướng trui. Hoặc vịnh cây lúa ngậm đòng sắp trổ bông: Lúa ơi em sắp trổ huê. Không chồng mà chữa thấy mê quá trời vân vân và vân vân.

Có dang nắng đội mưa, mướt mồ hôi lao nhọc, nhưng đó là một không gian thoáng đãng và một khoảng thời gian sống khỏe khoắn đối với tôi. Ở đó tôi có nhiều bạn nông dân quanh vùng Ô Môn, Thới Lai…, được họ mời đi đám giỗ, đám cưới có khi nhậu tới hai ngày mới “ được phép” quay về trại. Có những sẻ chia buồn vui với đám sinh viên bị kỷ luật, trai gái đồng cảnh ngộ sinh tình, vài bạn cặp bồ đỡ đần nhau qua đận khó. Có nguồn cảm hứng tươi rói từ đồng xanh để tôi làm được một bài thơ đắc ý, và chẳng ngờ nó sẽ mang lại cho tôi chút rắc rối sau này:

 

CHĂN VỊT Ở PHƯƠNG NAM

 

Tôi người trai sông Hương

Lưu lạc về sông Hậu

Như cánh chim ngủ đậu

Trên giồng đất quê em

 

Chòi tôi che hướng đông

Che dùm em ngọn gió

Em cười anh chiếc lá

Bị bão dạt về Nam

 

Tôi cười thời buổi khó

Đi đâu để trốn buồn

Thôi đành đi chăn vịt

Em bảo thế mà hơn

 

Vịt tôi chăn trăm con

Ngày lùa đi trăm ngả

Bạn tôi trăm tim nhỏ

Bạn tôi trăm linh hồn

Theo nhau qua thời khó

 

Thương mình em cô đơn

Ngày đưa võng ru con

Trông chồng nơi biên giới

Mùa chiến chinh tưởng lụi

Ai ngờ vẫn còn dài

Em buồn sợi tóc mai

Dài bằng cơn nắng sớm

Em buồn cây nhang ngún

Cháy khuya sầu mênh mang

 

Mỗi ngày tôi lùa vịt

Qua cánh đồng thênh thang

Buồn tôi khua gậy múa

Hát cùng bèo trôi sông

 

Mỗi ngày tôi lùa vịt

Qua muôn nẻo chập chùng

Ngóng dùm em phương đó

Coi chồng về hay không.

 

Sau hai năm dãi dầu mưa nắng tôi được nhập hộ khẩu, quay về trường làm việc ở Trung tâm đạm sinh học nhiệt đới, gội sạch đất phèn, nhập vào dòng người đô thị, được phân căn hộ 30 mét vuông tại khu tập thể 4T1, đại học khu I ở tít tận tầng 4, đường lên xuống là cầu thang thoát hiểm hình xoắn ốc. Những hôm nhậu oắt cần câu chỉ còn nước bò cả bốn vó mới mong lên tới nhà, không thì đành nửa đường ngủ đậu…cầu thang.

Nhà tôi làm việc ở phòng đời sống, nơi cung ứng các loại nhu yếu phẩm cho cán bộ nhân viên và sinh viên nhà trường. Thời cuộc sống bó hẹp trên rẻo diện tích khiêm tốn của tem phiếu, chúng tôi không đi buôn “củi quế” mà buôn “gạo châu” theo kiểu cò con. Nhà tôi mua lại tem phiếu của sinh viên, tôi nhận gạo chất lên xe đạp thồ ra bán lại cho các đại lý hoặc sạp bán lẻ ở chợ Tham Tướng, dăm ngày vài chuyến kiếm chút đỉnh tiền lời. Có hôm buộc không chặt cả tạ gạo đựng trong bọc lớn bọc nhỏ đổ nhào, vướng vào bánh xe gãy hàng loạt nan hoa hoặc méo cả vành, chuyến ấy coi như lỗ hoặc huề vốn. Phong trào “cải thiện” ở khu tập thể hồi ấy khá phổ biến. Ai được căn hộ tương đối rộng thì ngăn ô làm chuồng nuôi heo gà, trồng ít rau. Có anh thầy giáo khoa cơ khí ở tầng trệt khu 4T2 tận dụng khoảng trống hiếm hoi bên hông nhà trồng được cả giàn bầu bí sai quả quanh năm, mỗi lần thu hoạch anh đội thúng quả lên đầu đi quanh khu tập thể rao inh ỏi: Bầu ơi thương lấy bí cùng…Người dễ tính cười, vui vẻ mua. Kẻ khó tính nguýt, mắng ngầm đồ hâm tỉ độ, đồ làm xấu mặt nhà giáo! Chị vợ dạy khoa văn dọa sẽ ly dị nếu anh không bỏ cái trò hàng rong cố tình bi thảm hóa ấy. Anh không nghe, bảo đó là nghề tay trái lương thiện chẳng kém nghề tay phải.

Vào một ngày không nhớ đẹp hay xấu trời, tôi được gọi lên văn phòng Trung tâm đạm. Ông trợ lý giám đốc đưa lệnh chuyển công tác đoạn nhỏ nhẹ bảo tôi: Thầy giám đốc đi Hà Lan công tác hôm qua dặn tôi gặp anh bữa nay. Tôi thắc mắc lý do, ảnh lắc đầu: Ở đây anh làm việc rất tốt nhưng không hiểu sao…Thôi cứ chấp hành đã, thầy về hỏi lại sau.

Nhiệm sở mới: Lò đường ở đại học khu II. Công việc nặng gấp nhiều lần ở Trung tâm đạm.

Vốn là cây bút có chút tên tuổi ở miền Nam trước năm 1975, thấy tôi gác bút hơi lâu, trong đám bạn bè văn nghệ ở Sài Gòn có người đâm sốt ruột. Trong một chuyến về chơi cùng Ngụy Ngữ, nhà văn Nguyễn Hồ bảo tôi: Nghe nói ở đây mày nhậu thần sầu quỷ khốc lắm phải không? Tính mượn rượu để sớm cắt hộ khẩu về địa phủ hay sao? Cầm bút lại đi! Cãi chày cãi cối một hồi tôi đồng ý sẽ bỏ dần rượu và cầm bút trở lại dù bây giờ cầm cây bút lên thấy nó nặng gấp trăm lần thời trai trẻ.

Đinh ninh đất nước đang thời kỳ mở cửa, tôi viết kịch bản phim Người Trong Cuộc hơi thật thà, có phần mạnh tay. Phim nhựa trắng đen, thời lượng 90 phút, được thực hiện bởi hãng phim Nguyễn Đình Chiểu, đạo diễn Nguyễn Ngọc Hiến. Dàn diễn viên khá ấn tượng gồm: Thế Anh, Đơn Dương, Thương Tín, Minh Trang, Mai Phương…Nội dung phim nói về một nhóm bạn sinh viên cùng tham gia phong trào đấu tranh đô thị ở Sài Gòn, sau đó kẻ ở lại, người lên rừng. Trong và sau chiến tranh tình bạn của họ bị chi phối bởi những xung động tình cảm, sự dằn xé giữa lý tưởng và thực dụng, chân thật và dối lừa…Phim vừa hoàn thành chưa ra tới rạp đã nổ ra trận bút chiến về nội dung trong giới báo chí Sài Gòn lan ra tận Hà Nội. Trước sau tôi giữ im lặng.

Phòng tổ chức cán bộ trường gọi tôi lên. Mở đầu cuộc lục vấn, bà trưởng phòng hỏi tôi: Anh có biết tại sao hồi đó bị chuyển công tác khỏi Trung tâm đạm không? Tôi bảo không. Bà trưởng phòng nói không hở răng: Bởi vì tiến sỹ Đ không muốn liên lụy vì có nhân viên làm thơ được người ta phổ nhạc và hát ở nước ngoài, trên đài của địch. Mấy tuần nay báo chí lại sôi nổi vì kịch bản phim Người Trong Cuộc nghe đâu không lành mạnh lắm của anh. Tại sao là nhà thơ nhà văn nhưng trước đây anh không hề khai trong lý lịch? Hồi ấy anh là cán bộ quản lý ở NTO, sao bài thơ lại nói về chăn vịt, vân vân và vân vân.

Ngỡ bí nhưng rồi cũng có đầu ra, phim được trình chiếu rộng rãi sau khi đã kiểm duyệt chừng 30% nội dung, được giải thưởng đặc biệt của ban giám khảo Liên hoan phim –  không nhớ lần thứ bao nhiêu – tổ chức ở Nha Trang. Sau đó đạo diễn Nguyễn Ngọc Hiến rời khỏi chức vụ giám đốc hãng phim Nguyễn Đình Chiểu, và nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn thôi giữ chức trưởng ban biên tập hãng phim.

Điều bất ngờ, khi phim mang về chiếu ở khu vực Tây đô, người phụ trách phát hành phim đã cho nhân viên mang đến tặng tôi 15 vé mời để gia đình, người thân và bạn bè tôi có dịp đến rạp. Sau đó phim còn được mang vào chiếu ở sân bóng khu I và khu II đại học thu hút đông đảo người xem.

Canh ruộng mía, đứng lò kết tinh đường chừng nửa năm, tôi chuyển công tác ra Hội Văn nghệ hơn 8 năm trước khi “bay” về làm việc, sinh sống ở Sài Gòn. Bài thơ Chăn Vịt Ở Phương Nam mãi đến năm 1995 mới in trong tập thơ Vọng – NXB Văn Nghệ TP.HCM, tập thơ đầu tiên trong nghiệp bút của tôi, nhưng trước đó 15 năm, thời chiến tranh biên giới Tây Nam còn nóng hổi, nó đã được tôi “phát hành miệng” trong những dịp bù khú với bạn bè không chỉ ở Cần Thơ mà cả ở Sài Gòn, Huế và một vài nơi khác nên có lắm người thuộc, nó lặng lẽ “xuất khẩu” sang tận Mỹ qua một thuyền nhân nào đó cũng là chuyện dễ hiểu, được phổ nhạc rồi phát trên đài địch theo cách nói của bà trưởng phòng tổ chức lại càng ít khó hiểu hơn. Vào khoảng giữa thập niên 90 lắm Việt kiều hồi hương, qua vài người quen tôi mới biết, quả thật bài thơ ấy đã được Châu Đình An – một thuyền nhân người Huế tôi chưa từng gặp – phổ nhạc, ca sỹ Khánh Ly hát ở hải ngoại, có lần phát trên đài VOA. Gần đây theo mách bảo của một người bạn, tôi đã tìm thấy nó trên mạng Internet. Nói vui thì gần 30 năm tôi mới gặp lại đứa con lưu lạc, “lượng thứ” chút rắc rối nó đã vô tình gây ra cho tôi vào cái thời tạm gọi là thời khó ấy.

Nếu mỗi người có riêng một bảo tàng thời gian để cất giữ những gì quý báu nhất đời mình, thì Chăn Vịt Ở Phương NamNgười Trong Cuộc là 2 vật báu trong bảo tàng của riêng tôi. Chúng mang hơi thở ấm và lạnh, đắng và ngọt của một quãng đời tôi gắn bó với một vùng đất – chẳng phải là quê quán nhưng tôi luôn coi Cần Thơ là quê hương thứ hai của mình sau Huế – dài tới 17 năm.

 

 M.M

            (Cuối 2008)

 

 

 

 

 

 

 MƯỜNG MÁN

 

TRONG BẢO TÀNG THỜI GIAN

 

Hạt vui chung lẫn hạt đau

Mải mê chọn nhặt bạc đầu không hay

 

Cuối thập niên 70 của thế kỷ trước, nơi đầu tiên tôi dừng chân trong bước đường phiêu dạt từ Huế vào miền tây Nam Bộ là nông trại thực nghiệm Ô Môn – gọi tắt là NTO – trực thuộc trường đại học Cần Thơ. Nông trại rộng 200 ha, có hai dãy lán dài làm bằng tre lá dọc bờ kênh, mùa khô gió lộng bốn bề, mùa nước hệt cái ốc đảo giữa đồng nước nổi mênh mông. Đây là điểm nhân giống các loại lúa mới, nơi cải tạo của các sinh viên nam nữ bị kỷ luật với 1001 tội danh khác nhau, bị cầm chân lao động chừng 1 hoặc năm rưỡi sau đó trở lại trường lớp, và là nơi sinh viên các khoa trồng trọt, chăn nuôi từ trường lên thực tập, lập các tiêu bản thực nghiệm, lấy số liệu làm luận văn tốt nghiệp, và sinh viên các khoa khác lao động tập thể theo lịch của trường.

Cán bộ công nhân viên biên chế ở trại chừng mươi người, vào mùa vụ đông ken phải thuê thêm nông dân đảm nhận các khâu cấy gặt. Giám đốc trại là một kỹ sư nông nghiệp xấp xỉ lục tuần, gầy y con khô mực chưa nướng, thường thích xuất khẩu thành thơ, thơ rặt giọng hài tếu nhưng ông đọc khá trịnh trọng, người nghe không dám bật cười vì sợ phải tội bất kính với nhà thơ lớn…tuổi. Ví dụ, trong bữa nhậu ngoài trời, thầy và trò ngồi quanh đống lửa ông nhìn con cá lóc đang nướng trui mà rằng: Ôi nóng thế sao mày ngậm miệng. Không kêu lên một tiếng má ơi. Xưa nhỏ xíu ròng ròng bơi lội. Nay đổi tên thành cá nướng trui. Hoặc vịnh cây lúa ngậm đòng sắp trổ bông: Lúa ơi em sắp trổ huê. Không chồng mà chữa thấy mê quá trời vân vân và vân vân.

Có dang nắng đội mưa, mướt mồ hôi lao nhọc, nhưng đó là một không gian thoáng đãng và một khoảng thời gian sống khỏe khoắn đối với tôi. Ở đó tôi có nhiều bạn nông dân quanh vùng Ô Môn, Thới Lai…, được họ mời đi đám giỗ, đám cưới có khi nhậu tới hai ngày mới “ được phép” quay về trại. Có những sẻ chia buồn vui với đám sinh viên bị kỷ luật, trai gái đồng cảnh ngộ sinh tình, vài bạn cặp bồ đỡ đần nhau qua đận khó. Có nguồn cảm hứng tươi rói từ đồng xanh để tôi làm được một bài thơ đắc ý, và chẳng ngờ nó sẽ mang lại cho tôi chút rắc rối sau này:

 

CHĂN VỊT Ở PHƯƠNG NAM

 

Tôi người trai sông Hương

Lưu lạc về sông Hậu

Như cánh chim ngủ đậu

Trên giồng đất quê em

 

Chòi tôi che hướng đông

Che dùm em ngọn gió

Em cười anh chiếc lá

Bị bão dạt về Nam

 

Tôi cười thời buổi khó

Đi đâu để trốn buồn

Thôi đành đi chăn vịt

Em bảo thế mà hơn

 

Vịt tôi chăn trăm con

Ngày lùa đi trăm ngả

Bạn tôi trăm tim nhỏ

Bạn tôi trăm linh hồn

Theo nhau qua thời khó

 

Thương mình em cô đơn

Ngày đưa võng ru con

Trông chồng nơi biên giới

Mùa chiến chinh tưởng lụi

Ai ngờ vẫn còn dài

Em buồn sợi tóc mai

Dài bằng cơn nắng sớm

Em buồn cây nhang ngún

Cháy khuya sầu mênh mang

 

Mỗi ngày tôi lùa vịt

Qua cánh đồng thênh thang

Buồn tôi khua gậy múa

Hát cùng bèo trôi sông

 

Mỗi ngày tôi lùa vịt

Qua muôn nẻo chập chùng

Ngóng dùm em phương đó

Coi chồng về hay không.

 

Sau hai năm dãi dầu mưa nắng tôi được nhập hộ khẩu, quay về trường làm việc ở Trung tâm đạm sinh học nhiệt đới, gội sạch đất phèn, nhập vào dòng người đô thị, được phân căn hộ 30 mét vuông tại khu tập thể 4T1, đại học khu I ở tít tận tầng 4, đường lên xuống là cầu thang thoát hiểm hình xoắn ốc. Những hôm nhậu oắt cần câu chỉ còn nước bò cả bốn vó mới mong lên tới nhà, không thì đành nửa đường ngủ đậu…cầu thang.

Nhà tôi làm việc ở phòng đời sống, nơi cung ứng các loại nhu yếu phẩm cho cán bộ nhân viên và sinh viên nhà trường. Thời cuộc sống bó hẹp trên rẻo diện tích khiêm tốn của tem phiếu, chúng tôi không đi buôn “củi quế” mà buôn “gạo châu” theo kiểu cò con. Nhà tôi mua lại tem phiếu của sinh viên, tôi nhận gạo chất lên xe đạp thồ ra bán lại cho các đại lý hoặc sạp bán lẻ ở chợ Tham Tướng, dăm ngày vài chuyến kiếm chút đỉnh tiền lời. Có hôm buộc không chặt cả tạ gạo đựng trong bọc lớn bọc nhỏ đổ nhào, vướng vào bánh xe gãy hàng loạt nan hoa hoặc méo cả vành, chuyến ấy coi như lỗ hoặc huề vốn. Phong trào “cải thiện” ở khu tập thể hồi ấy khá phổ biến. Ai được căn hộ tương đối rộng thì ngăn ô làm chuồng nuôi heo gà, trồng ít rau. Có anh thầy giáo khoa cơ khí ở tầng trệt khu 4T2 tận dụng khoảng trống hiếm hoi bên hông nhà trồng được cả giàn bầu bí sai quả quanh năm, mỗi lần thu hoạch anh đội thúng quả lên đầu đi quanh khu tập thể rao inh ỏi: Bầu ơi thương lấy bí cùng…Người dễ tính cười, vui vẻ mua. Kẻ khó tính nguýt, mắng ngầm đồ hâm tỉ độ, đồ làm xấu mặt nhà giáo! Chị vợ dạy khoa văn dọa sẽ ly dị nếu anh không bỏ cái trò hàng rong cố tình bi thảm hóa ấy. Anh không nghe, bảo đó là nghề tay trái lương thiện chẳng kém nghề tay phải.

Vào một ngày không nhớ đẹp hay xấu trời, tôi được gọi lên văn phòng Trung tâm đạm. Ông trợ lý giám đốc đưa lệnh chuyển công tác đoạn nhỏ nhẹ bảo tôi: Thầy giám đốc đi Hà Lan công tác hôm qua dặn tôi gặp anh bữa nay. Tôi thắc mắc lý do, ảnh lắc đầu: Ở đây anh làm việc rất tốt nhưng không hiểu sao…Thôi cứ chấp hành đã, thầy về hỏi lại sau.

Nhiệm sở mới: Lò đường ở đại học khu II. Công việc nặng gấp nhiều lần ở Trung tâm đạm.

Vốn là cây bút có chút tên tuổi ở miền Nam trước năm 1975, thấy tôi gác bút hơi lâu, trong đám bạn bè văn nghệ ở Sài Gòn có người đâm sốt ruột. Trong một chuyến về chơi cùng Ngụy Ngữ, nhà văn Nguyễn Hồ bảo tôi: Nghe nói ở đây mày nhậu thần sầu quỷ khốc lắm phải không? Tính mượn rượu để sớm cắt hộ khẩu về địa phủ hay sao? Cầm bút lại đi! Cãi chày cãi cối một hồi tôi đồng ý sẽ bỏ dần rượu và cầm bút trở lại dù bây giờ cầm cây bút lên thấy nó nặng gấp trăm lần thời trai trẻ.

Đinh ninh đất nước đang thời kỳ mở cửa, tôi viết kịch bản phim Người Trong Cuộc hơi thật thà, có phần mạnh tay. Phim nhựa trắng đen, thời lượng 90 phút, được thực hiện bởi hãng phim Nguyễn Đình Chiểu, đạo diễn Nguyễn Ngọc Hiến. Dàn diễn viên khá ấn tượng gồm: Thế Anh, Đơn Dương, Thương Tín, Minh Trang, Mai Phương…Nội dung phim nói về một nhóm bạn sinh viên cùng tham gia phong trào đấu tranh đô thị ở Sài Gòn, sau đó kẻ ở lại, người lên rừng. Trong và sau chiến tranh tình bạn của họ bị chi phối bởi những xung động tình cảm, sự dằn xé giữa lý tưởng và thực dụng, chân thật và dối lừa…Phim vừa hoàn thành chưa ra tới rạp đã nổ ra trận bút chiến về nội dung trong giới báo chí Sài Gòn lan ra tận Hà Nội. Trước sau tôi giữ im lặng.

Phòng tổ chức cán bộ trường gọi tôi lên. Mở đầu cuộc lục vấn, bà trưởng phòng hỏi tôi: Anh có biết tại sao hồi đó bị chuyển công tác khỏi Trung tâm đạm không? Tôi bảo không. Bà trưởng phòng nói không hở răng: Bởi vì tiến sỹ Đ không muốn liên lụy vì có nhân viên làm thơ được người ta phổ nhạc và hát ở nước ngoài, trên đài của địch. Mấy tuần nay báo chí lại sôi nổi vì kịch bản phim Người Trong Cuộc nghe đâu không lành mạnh lắm của anh. Tại sao là nhà thơ nhà văn nhưng trước đây anh không hề khai trong lý lịch? Hồi ấy anh là cán bộ quản lý ở NTO, sao bài thơ lại nói về chăn vịt, vân vân và vân vân.

Ngỡ bí nhưng rồi cũng có đầu ra, phim được trình chiếu rộng rãi sau khi đã kiểm duyệt chừng 30% nội dung, được giải thưởng đặc biệt của ban giám khảo Liên hoan phim –  không nhớ lần thứ bao nhiêu – tổ chức ở Nha Trang. Sau đó đạo diễn Nguyễn Ngọc Hiến rời khỏi chức vụ giám đốc hãng phim Nguyễn Đình Chiểu, và nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn thôi giữ chức trưởng ban biên tập hãng phim.

Điều bất ngờ, khi phim mang về chiếu ở khu vực Tây đô, người phụ trách phát hành phim đã cho nhân viên mang đến tặng tôi 15 vé mời để gia đình, người thân và bạn bè tôi có dịp đến rạp. Sau đó phim còn được mang vào chiếu ở sân bóng khu I và khu II đại học thu hút đông đảo người xem.

Canh ruộng mía, đứng lò kết tinh đường chừng nửa năm, tôi chuyển công tác ra Hội Văn nghệ hơn 8 năm trước khi “bay” về làm việc, sinh sống ở Sài Gòn. Bài thơ Chăn Vịt Ở Phương Nam mãi đến năm 1995 mới in trong tập thơ Vọng – NXB Văn Nghệ TP.HCM, tập thơ đầu tiên trong nghiệp bút của tôi, nhưng trước đó 15 năm, thời chiến tranh biên giới Tây Nam còn nóng hổi, nó đã được tôi “phát hành miệng” trong những dịp bù khú với bạn bè không chỉ ở Cần Thơ mà cả ở Sài Gòn, Huế và một vài nơi khác nên có lắm người thuộc, nó lặng lẽ “xuất khẩu” sang tận Mỹ qua một thuyền nhân nào đó cũng là chuyện dễ hiểu, được phổ nhạc rồi phát trên đài địch theo cách nói của bà trưởng phòng tổ chức lại càng ít khó hiểu hơn. Vào khoảng giữa thập niên 90 lắm Việt kiều hồi hương, qua vài người quen tôi mới biết, quả thật bài thơ ấy đã được Châu Đình An – một thuyền nhân người Huế tôi chưa từng gặp – phổ nhạc, ca sỹ Khánh Ly hát ở hải ngoại, có lần phát trên đài VOA. Gần đây theo mách bảo của một người bạn, tôi đã tìm thấy nó trên mạng Internet. Nói vui thì gần 30 năm tôi mới gặp lại đứa con lưu lạc, “lượng thứ” chút rắc rối nó đã vô tình gây ra cho tôi vào cái thời tạm gọi là thời khó ấy.

Nếu mỗi người có riêng một bảo tàng thời gian để cất giữ những gì quý báu nhất đời mình, thì Chăn Vịt Ở Phương NamNgười Trong Cuộc là 2 vật báu trong bảo tàng của riêng tôi. Chúng mang hơi thở ấm và lạnh, đắng và ngọt của một quãng đời tôi gắn bó với một vùng đất – chẳng phải là quê quán nhưng tôi luôn coi Cần Thơ là quê hương thứ hai của mình sau Huế – dài tới 17 năm.

 

 M.M

            (Cuối 2008)