MƯỜNG MÁN

NHỚ CẦM THI GIANG

 

Cần Thơ những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước đất rộng, người thưa. Gió quanh năm hào phóng thổi từ sông lớn vào vỗ xanh ruộng vườn. Thành phố tương đối còn nguyên vóc dáng cũ, chưa bị “phá cách” bởi các công trình xây dựng đồ sộ, bê tông cốt thép lấn át thiên nhiên cỏ cây hoa lá như sau này.

Nơi cư ngụ đầu tiên của gia đình tôi ở Cần Thơ hồi ấy là căn hộ chừng 30 mét vuông ở khu tập thể 4T1 trong khuôn viên Trường đại học khu I. Khu tập thể vốn là cư xá đại học dưới chế độ cũ còn khá tốt, được bố trí “chặt chẽ” lại bằng cách làm thêm nhiều vách ngăn để chứa được nhiều người ở hơn. Chỗ chúng tôi ở tận tầng 4 vốn là căn bếp thông với căn rộng gấp đôi ở phía trước, nay ngăn thành 2 hộ biệt lập, lên xuống bằng cái cầu thang thoát hiểm hình xoắn ốc, phòng vệ sinh tắm giặt ở giữa dùng chung với căn đối diện có diện tích tương tự.

Chẳng có “đất” để ngăn ô làm chuồng nuôi heo gà, trồng tí rau tươi cải thiện như các hộ ở tầng trệt, hoặc các căn bìa có hành lang, nhưng đối với chúng tôi đó là một nơi khá tốt giữa thời buổi kinh tế còn rất khó khăn.

Vật chất chẳng bằng ai, chỗ chúng tôi lại khá giàu gió lộng, giàu tình cảm láng giềng. Căn hộ đối diện là nơi ở của ba cô giáo trẻ độc thân Cầm Hương, Thanh Hỷ và Thu Thơ, họ đến từ những tỉnh thành khác nhau, chung xuất thân từ những gia đình chân quê, chung hoài bão tương lai sẽ thoát khỏi cảnh đời ruộng rẫy ông cha đã tiếp nối bao đời, chung đam mê học hỏi để thăng tiến hơn nghề giáo vài ba nấc qua đường học vấn, mục tiêu là những tấm bằng thạc sỹ, tiến sỹ…Ngoài giờ đứng lớp, cả ba chong đèn học rất khuya.

Nhà tôi làm việc ở phòng đời sống ngay khu I, cách nơi ở chừng vài trăm bước chân, tôi xa hơn, Trung tâm đạm sinh học nhiệt đới tận khu II, hơn nửa tiếng xe đạp. Đứa con gái đầu lòng của chúng tôi hồi ấy còn ở tuổi đi nhà trẻ, được ba cô láng giềng coi như con, những lúc chúng tôi phải tăng ca làm việc hoặc đi công tác đột xuất họ luôn vui vẻ đón hoặc đưa con bé giùm. Đôi khi chúng tôi ngại quá chẳng dám nhờ, thấy quá giờ cô phụ trách nhà trẻ “ hồn nhiên” nhắn họ đến đón hộ coi như họ là người nhà của chúng tôi vậy. Mỗi lần có các tía hoặc các má mang lỉnh kỉnh những quà đặc sản từ quê ra thăm các cô con gái rượu là được dịp cả hai nhà tụ tập lại ấm áp chia vui. “Hàng xóm” quanh khu tập thể ngoại trừ vài người ích kỷ sống khép kín, đa số khá thân thiện, thơm thảo.

Tật xấu trầm trọng tôi mắc phải thời ấy là mê nhậu. Phải chăng đi đâu cũng đụng quán nhậu, bàn nhậu, chiếu nhậu nên cái tật ấy lậm vào người lúc nào chẳng hay? Đồng nghiệp ở cơ quan, bạn bè văn nghệ, kẻ quen người lạ chỉ cần cái bắt tay, vô vài xị là trở thành “chí cốt” ngay tắp lự, theo kiểu nói thời thượng bây giờ thì với ai và bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng cụng ly chia tình thương mến thương.

Thành tích nhậu đáng “nể” nhất cho đến nay mỗi khi chợt nhớ, tôi còn nghe hàng trăm triệu hồng huyết cầu xấu hổ dồn lên mặt nóng ran. Sáng chủ nhật hôm ấy nhà tôi bận giặt giũ, dọn dẹp nhà cửa, tôi xách giỏ đi chợ thay nàng. Rời chợ vào tầm 9 giờ sáng, ngang qua một quán cóc bất ngờ đụng phải Nhứt Xe Bồn – thi sỹ kiêm tài xế lái xe bồn chở xăng dầu, chơi với bạn bè chí tình, rất hào sảng – và đám bạn chừng dăm đứa. Tôi vào quán, thoạt tiên cà phê sau đó là rượu đế nhắm với khô cá khoai, cóc ổi. Sang xị thứ sáu vẫn nhớ mình là ai, nhưng tôi quên béng cái bếp nguội lạnh ở nhà đang chờ người chồng người cha về để đỏ lửa, cao hứng móc hết đồ đã mua ở chợ ra khỏi giỏ đặt lên bàn, dõng dạc hô cô chủ quán xinh gái chế biến cấp tốc thành mồi nhậu trước những tiếng huýt sáo, xuýt xoa thán phục của lũ bạn. Chẳng rõ lúc ấy mặt mày tôi vênh váo đáng ghét thế nào, nhưng hôm sau đó tôi đâm ra ngại mỗi lần phải đứng trước gương.

Những hôm say xỉn về nhà, tôi ghét nhất cái cầu thang xoắn ốc, phải bò lên đã đành, nó bất động nhưng thỉnh thoảng muốn chơi khăm hay sao đó, bí mật chao đảo hất tôi té dúi dụi.

Nhậu kiểu hồ đồ như thế tôi nhanh chóng lên “đẳng cấp” trong đám đệ tử lưu linh trong và ngoài làng đại học. Giữ cái đẳng cấp ảo này chẳng bao lâu tôi đã tự xóa nó sau chầu nhậu đón giao thừa với bọn thằng Giang Mò – làm thuê cho một xí nghiệp khai thác cát dưới lòng sông Hậu, kiêm nghề mò xác chết trôi trên sông này do thiện nguyện, không nhận tiền công từ người thân của những kẻ vắn số bị rủi ro, hoặc tự kết liễu đời mình trên sông nước.

Đêm hôm ấy bềnh bồng giữa sông ăn sóng nói gió, trước khi quắc cần câu tôi đã ngẫu hứng kể cho bọn nó nghe một truyền thuyết gắn với dòng sông Hậu, rằng ngày xửa ngày xưa sau khi bại trận, hầu hết gia tộc bị quân Tây Sơn giết thảm, đâu vào khoảng năm 1777 vua Gia Long phải bôn tẩu vào Nam mở đầu cuộc trường chinh 25 năm để khôi phục lại cơ nghiệp nhà Nguyễn. Đêm nọ ngang qua sông Hậu tình cờ gặp những lưu dân phường hạ bạc tụ tập ghe xuồng giữa dòng mở hội đàn ca, xúc động, vua đã đặt tên cho dòng sông này là Cầm Thi Giang. Thằng Giang Mò làm bộ chắp tay cung kính hỏi tôi: Chưa bao giờ thấy huynh sung như bữa nay, nốc ba ly rượu rắn cho một lượt chuyền nhông là xưa nay hiếm, làm bọn em theo muốn hụt hơi. Tôi ậm ừ: À, năm nay vợ con tao về quê ăn Tết nên bị sầu lẻ bóng cắn phải, nghe tụi bây đờn ca vọng cổ tao ngỡ mình là vua Gia Long đang nghe nam ai nam bằng bèn chạnh lòng sầu xứ…

Sớm hôm sau quay về tự mình xông đất năm mới nhà mình, bị cái cầu thang phải gió quăng quật cho tơi bời hoa lá, ói một trận muốn lộn trái dạ dày ra ngoài, mật xanh mật vàng làm đổi cả màu gạch men trên sàn. Từ ấy tôi bỏ dần rồi cai hẳn rượu.

Sau này rời Cần Thơ, có lúc bị cái gọi là hoài cảm sờ gáy, tôi đã chọn Giang Mò làm nguyên mẫu để viết truyện ngắn Sáu Giang Hồ, và làm bài thơ Đêm Sông Hậu, thi vị hóa phần nào cái “hào khí” nhậu ngất trời đêm giao thừa năm ấy:

 

Đêm phương Nam sóng vỗ

Mênh mang khúc tang bồng

Quên ba chìm bảy nổi

Giũ chín sầu long đong

 

Đàn ghita phím lõm

Nói hộ bạn nỗi lòng

Cánh lục bình xa xứ

Cõng dùm ta nhớ mong

 

Ghe lắc lư lưng sóng

Bạn ta vui hát tràn

Ăn sóng rồi nói gió

Cạn ly chúc giàu sang

 

Rượu cất từ nắng xối

Rượu ủ từ mưa chan

Cạn ly mong gió chướng

Cuốn nghèo ra biển Đông

 

Tình tang đưa nước lớn

Ý a đón nước ròng

Giữa chừng câu vọng cổ

Nghệt mặt ra nhớ nàng

 

Đêm phương Nam sóng vỗ

Mênh mang khúc xuân hành

Xuân đã về tới bến

Lòng còn neo giữa dòng.

.

Thời gian vèo qua, mới đó mà đã 30 năm. Cái nơi bạn bè xưa quen gọi vui là cái chuồng cu trên tầng 4 khu tập thể ấy bây giờ là tổ ấm của ai? Ba cô giáo láng giềng tốt bụng kẻ vẫn độc thân trở thành tiến sỹ, người dở dang mộng sách đèn vì bận bịu chồng con. Bè bạn cũ tứ tán khắp bốn phương trời. Nhứt Xe Bồn giã từ chai ly cách đây vài năm trên đất Hoa Kỳ, để lại bài thơ Mưa dưới bút danh Trần Kiêu Bạt buồn da diết, đến nay tôi còn nhớ:

Đêm nằm trong tiếng mưa rơi

Nghe bên mái lá giọng người ầu ơ

Buồn nghiêng một cuộc tình hờ

Đời run rẩy bước cõi mơ nào rồi.

 

Giang Mò nghe đâu sang Campuchia làm ăn chẳng rõ có đổi quốc tịch hay không, chẳng thấy về vân vân và vân vân.

Và tôi, ẩn mình trong căn nhà khuất nẻo giữa Sài Gòn đô hội thỉnh thoảng nhớ miền Tây, nhất là vào dịp cuối năm, rót ly rượu nhẹ tự mời mình, lẩm bẩm vài câu thơ cũ:

 

Giọt kìm buông da diết

Dạ cổ hoài lang ơi

Tình trầm trong chang đước

Nghĩa cuốn lá tràm bay

Chén sầu tương biệt ấy

Rót bao giờ tan vơi…

M.M

(Cuối 2008)