HÌNH SƯƠNG BÓNG KHÓI

Truyện ngắn của MƯỜNG MÁN

từ bốn cửa đông tây nam bắc

tới bốn mùa xuân hạ thu đông

theo nhau về như sáo sang sông

như chuồn chuồn có đôi có cặp

Hiếu có chiếc xe đạp mang nhãn hiệu Sterling. Có lẽ nó được nhập cảng từ hồi “thằng Tây qua giăng dây thép vẽ địa đồ Việt Nam” cơ. Nó cũ kỹ cơ hồ sẽ gãy gập lúc nào chính nó cũng không biết trước được. Tuy nhiên, Hiếu cũng mang đến tiệm sơn một lớp màu xanh lá cây thay thế cái màu vàng tróc lở nguyên thủy của nó. Mỗi ngày Hiếu đi xe đạp tới trường Đồng Khánh. Ở Huế, đi xe đạp là một tuyệt thú. Đạp loanh quanh dưới những vòm cây mùa hè không gì tuyệt bằng. Có người bảo Huế nhiều thi sĩ vì có lắm kẻ đi xe đạp (?). Đi xe đạp, vừa đạp chầm chậm vừa mơ mộng. Tốc độ xe đạp chẳng chi phối tâm thần như tốc độ và tiếng nổ xe máy, tha hồ ngắm mây ngắm gió, đuổi bướm giỡn chim và… làm thơ. Chiếc xe đạp của Hiếu chạy rong khắp bốn mùa chỉ có vài lần bị xẹp lốp vì một cây đinh ai đó lơ đãng vất trên đường, hay gai góc gì đó.

Một buổi chiều trên đường về nhà (vì mải đi chơi với bạn nên về hơi muộn), đường vắng teo, lại mưa lất phất nữa. Một anh chàng – cũng đi xe đạp – rà rà theo Hiếu tán: “Bé ơi, bé đi xe cách chi mà hay rứa; bé cứ đạp cái pédale lui thì hai cái bánh xe nó chạy tới”. Hiếu nín cười bặm môi nghe câu hỏi ngớ ngẩn của anh chàng. Suốt đoạn đường dài cỡ hai cây số, anh chàng cứ lặp lại độc nhất câu đó. Hiếu nghĩ bụng có lẽ anh chàng thuộc loại vô duyên nhất trần đời nên không biết nói thêm lời gì khác nữa chăng? Trong lúc Hiếu cố nín cười làm mặt nghiêm như mặt cô giáo ngày đầu niên khóa, anh chàng vẫn nói in tụng kinh câu đó mãi. Cuối cùng Hiếu quyết định đạp thật nhanh cho mau tới nhà, vì cũng chỉ câu ấy, cũng bằng cái giọng tỉnh táo nọ, anh chàng nói hoài Hiếu phát sợ, phát giận. Hai bánh đang lăn hết tốc lực trên đường trơn nước mưa, bỗng “phựt” một cái; sợi dây sên rời khỏi ổ líp kéo lết trên mặt lộ. Không còn cách nào hơn, Hiếu đành đứng xuống cầm ghi đông dắt bộ. Anh chàng chưa chịu tha, cứ rà rà bướng bỉnh quyết lòng theo. Tới khúc quanh đầu cầu Trường Tiền, chỗ có cái tiệm sửa xe của ông già người Bình Định, Hiếu mừng quýnh, đun xe vào cho ông ta sửa; anh chàng cũng dựng xe dưới gốc cây im lặng đứng ngó, ra vẻ chăm chú lắm. Lúc này có ông già sửa xe nên Hiếu can đảm một tí; Hiếu cho nổ cơn giận: Hiếu nắm chặt hai bàn tay lấy sức, Hiếu nhướng mắt ném tia nhìn trực diện anh chàng vô duyên nhất trần đời: “Hồi nãy anh nói cái chi, tui nghe không rõ?” Anh chàng vẫn không rời mắt khỏi hai bàn tay dính bết dầu mỡ của ông già đang loay hoay với sợi sên đứt, giọng chẳng khác lúc nãy bao nhiêu, nghĩa là trầm trầm nhè nhẹ: “Anh hỏi bé tại răng bé đạp cái pédale lui mà cái xe vẫn cứ chạy tới?” Thái độ nói không cần nhìn mặt kẻ đối diện của anh chàng làm Hiếu càng giận muốn run, nhưng cũng cảm thấy ngài ngại. Hiếu nói gần như chỉ với ba phần tự nhiên, hết bảy phần cố gắng: “Anh điên hay khùng đây?”. Anh chàng thoáng mỉm cười, rồi bằng cử động nhanh nhẹn nhất của loài sóc, phóc lên xe đi thẳng; Hiếu lạ lùng trông theo mà ngẩn ngơ, anh chàng chẳng hề ngoảnh lại. Đêm đó, về nhà không cách gì Hiếu ngủ được; suốt mấy đêm liền, hễ cứ ngó chiếc xe đạp là Hiếu nhớ tới câu hỏi ngớ ngẩn và vẻ mặt tỉnh táo, giọng nói trầm trầm của anh chàng và, cơn giận ẩn nấp đâu đó ở một xó xỉnh trong hồn Hiếu chợt mơ hồ trỗi dậy. Hiếu giấu biến chuyện ấy, chẳng hề kể với ai… cho đến một buổi chiều chủ nhật:

Ngồi bên trong cửa sổ, thoạt thấy bóng anh chàng dựng xe trước cổng, tim Hiếu tự động chơi trò đu bay trong ngực Hiếu; cơn giận vừa chồm dậy trong Hiếu chăng? Không, Hiếu bỗng thấy lo sợ, nỗi sợ rất vô căn cớ và rất đỗi vu vơ. Sau khi dựng xe đạp vàocột trụ cổng, anh chàng đứng ngó quanh quất một hồi. Hiếu nghĩ có lẽ anh chàng lầm nhà? Nhưng không, không còn ngờ chi nữa, anh ta mạnh bạo đi vào sân. Hiếu chạy vụt vô phòng anh Toàn trong lúc anh chàng bước lên bậc cấp thứ nhất. Anh Toàn nằm dài trên ghế xích đu đọc báo, thấy Hiếu vào, anh nhổm dậy: “Cái chi đó Hiếu?”. Hiếu cố lấy giọng tỉnh táo bảo: “Có ông bạn của anh tới kiếm kìa.” Anh Toàn tưởng thật, kéo lê đôi dép Nhật ra cửa. Hiếu rón rén cẩn thận vào đứng sau tấm màn, giấu mình trong phòng mẹ. Bên ngoài, mẩu đối thoại thế này: Anh Toàn hỏi: “Muốn hỏi thăm ai hả anh?” Giọng anh chàng tự nhiên ngoài dự tưởng Hiếu: “Dạ thưa đây có phải nhà của Hiếu, Tịnh Hiếu không ạ?” Hiếu kêu thầm, trời, răng hắn biết tên ta? Im lặng một chút rồi cái giọng tinh nghịch cố hữu của anh Toàn chậm rãi: “Không có ai ở đây tên đó cả, anh nhớ lại thử có lầm địa chỉ không?”. Giọng anh chàng hơi bối rối: “Dạ tôi là bạn cùng học một lớp với cô ấy ở Hội Việt Mỹ, muốn hỏi mượn cuốn vở vì buổi học hôm kia tôi bận chẳng tới lớp được!” Trong màn, Hiếu nghĩ thầm “Anh chàng này tinh quái thật, biết cả ta học lớp đêm ở Hội Việt Mỹ nữa cơ! Thế thì hắn theo dõi kỹ và lâu rồi, chẳng phải mới từ hôm ta hư xe mô”; nghĩ vậy và bất giác Hiếu toát mồ hôi lạnh. Vẫn bằng giọng tinh nghịch, Hiếu nghe anh Toàn bảo: “Tôi cũng có con em gái, cũng học ở Hội Việt Mỹ, nhưng nó tên là Âu Sầu, Trần Thị Âu Sầu ấy, anh lầm nhà rồi”. Bên ngoài, anh chàng nói xin lỗi rồi cảm ơn, ra về. Lúc chắc mẩm anh chàng đã đi xa rồi Hiếu tung màn chạy ra, đụng phải vẻ mặt lầm lì tựa đá của anh Toàn, Hiếu đâm ra hoảng; nhưng anh cười hóm hỉnh bảo: “Bồ tèo của mi đó hả? Răng lâu ni mi giấu ta?” Bằng vào dáng điệu của anh lúc nói, Hiếu biết anh không hề giận – Hiếu giả vờ dỗi: “Ơ hay, anh nói nghe hay chưa, nếu phải là của em, em còn kêu anh ra hội kiến làm chi? Lại ai tên là Âu Sầu mô mà anh nói tôi có con em tên…?” Anh Toàn cười xuề xòa xua tay: “Không phải thì thôi, bà nội nhỏ.”

Sau cái buổi chiều “lịch sử” ấy, tâm hồn trắng hơn giấy quyến của Hiếu bỗng bị cái hình bóng của anh chàng đột nhập. Lối nói chuyện, cách đi bộ đứng anh chàng dưới mắt Hiếu chợt lồng qua một lớp khung, một lớp giấy bóng gói bọc độc đáo là lạ nào đó; thật khó diễn tả cho trắng ý, nhưng rõ ràng cơn giận ẩn nấp ở một xó xỉnh mơ hồ trong hồn Hiếu dưng không một sáng một chiều biến thành mối hảo cảm đối với anh chàng lúc nào chẳng hay. Trên đường đi học, lắm lúc Hiếu thấy phát ngượng vì chợt bắt gặp mình ngó ngang ngó dọc, liếc xéo liếc xiên coi thử có bóng dáng anh chàng đâu đây không! Giữa thời gian này, Hiếu cũng khám phá ra mình đang manh nha một nỗi đợi mong nào đó. Sự chờ đợi không rõ vóc dáng, nhưng Hiếu biết Hiếu đang có sự chờ đợi vô hình nọ. Mỗi trưa mỗi chiều đi học về Hiếu cứ ngỡ có một cái thư hay một cái gì đó, một chuyện lạ đang đợi mình ở nhà. Thư ai? Chuyện lạ nào? Hiếu lắc đầu không biết. Nhưng rồi chẳng có thư có chuyện gì ráo; Hiếu xấu hổ và, giận cái óc não ưa nghĩ ngợi vu vơ của mình ghê gớm. Sự chờ đợi mỗi ngày theo mặt trời mọc và lặn nguôi ngoai dần, bẵng đi hơn một tháng, hình ảnh gã con trai sắp mốc meo trong ký ức Hiếu, không dưng vào một dịp chẳng ngờ nhất, Hiếu lại gặp mặt anh chàng.

Đó là hôm đến dự tiệc cưới một chị bạn. Trong bữa tiệc phần đông người lớn, Hiếu thuộc loại choai choai bé bỏng nên hoàn toàn cảm thấy lạc lõng giữa không khí vui nhộn của mọi người. Trong số ít người trẻ tuổi như Hiếu còn có chàng. Vâng, chàng; chính là cái anh chàng ngớ ngẩn ấy. Không biết do định mệnh hay sự tình cờ xếp đặt nào, anh chàng ngồi đối diện Hiếu trong bàn tiệc. Giữa đám đông người, thỉnh thoảng Hiếu và chàng đưa mắt ngó trộm nhau, mỗi lần ngó chàng Hiếu không khỏi nhớ đến mẩu đối thoại giữa chàng và anh Toàn hôm chủ nhật, mẩu đối thoại tức cười hết sức, Hiếu nhớ, nên một lúc nào đó Hiếu bất giác bật cười. Nụ cười hở môi hở răng của Hiếu không ngờ lại giúp chàng thêm vài lượng tự nhiên, chàng lân la gợi chuyện xa gần, vẫn với giọng nói trầm trầm, vẻ tỉnh táo và đôi mắt có vẻ gì hình như là rất xa xăm. Vừa nói chuyện vẩn vơ với chàng Hiếu vừa nhủ thầm: coi chừng mi nhuốm bệnh “cảm” rồi đó Hiếu ạ! Câu chuyện dẫn dắt loanh quanh chú rể và cô dâu; tuyệt nhiên chàng chẳng nhắc nhở gì đến chuyện cũ giữa Hiếu và chàng cả. Tuy vậy, Hiếu đọc được tình cảm chàng dành cho Hiếu rất nồng nàn (có thể nói nồng như vôi) trong đôi mắt xa xăm kia. Vãn tiệc, cũng trong không khí bình thản ấy, chàng lịch sự chào Hiếu rồi ra về. Câu chuyện suốt buổi đối mặt chẳng đưa tới một nơi chốn, giờ giấc hẹn hò nào.

Cái bệnh mất ngủ, lo nghĩ vẩn vơ trong Hiếu lại có dịp tái phát dữ. Không ngờ chi nữa, bệnh “cảm” vào lục phủ ngũ tạng mi rồi Hiếu ơi! Hiếu thủ thỉ với lòng Hiếu như thế. Nỗi chờ đợi lúc này không còn vô hình nữa, nó mang đúng kích thước vóc dáng anh chàng rồi.

Ta yêu?

Đôi ba phen Hiếu tự hỏi lòng, sáu bảy bận Hiếu soi gương đối bóng. Tình yêu là gì nhỉ? Tình yêu là vết trăng non len lén vỗ về bông hoa đêm qua vừa hé nụ! Tình yêu là hai làn sóng trên mặt hồ êm đềm dao động đan níu nhau? Tình yêu là chim nối liền cánh bay, cá cắn đuôi nhau lội? Ôi quanh ta cây cỏ thiên nhiên muông thú đang hợp xướng những bài tình ca. Trong ta hẳn tình yêu đang như cái tế bào to, lớn mạnh hồng hào khắp ngõ da nẻo thịt? cái tế bào tình yêu trải suốt chiều dài phổi; choán hết thể tích tim? Hiếu băn khoăn, Hiếu phân tách phần hồn phần xác Hiếu và thấy rằng ẩn kín, man mác trong hai phần đó dường như có mặt nó: tình yêu. Hiếu nghĩ về tình yêu như đứa trẻ chưa từng ăn chanh muốn cắn một chút xem thử vị chua như thế nào.

Tình yêu là hình sương bóng khói; nó nhẹ nhàng tợ cánh con ve sầu chợt đậu xuống lòng Hiếu; bắt Hiếu thẫn thờ, bắt Hiếu ăn không ngon ngủ không tròn giấc, xui Hiếu trông đợi vu vơ. Nỗi trông đợi hiện nguyên hình trước mắt Hiếu chiều nay, từ những dòng chữ của một tờ thư dài:

Bé yêu quí. Khi bé trải rộng lá thư này dưới tầm mắt nhung nai của bé thì anh đã không còn trong thành phố này nữa, đã không thở chung bầu khí hậu bé đang thở nữa. Anh đã bỏ đi xa, rất xa, tận thế giới nào đó ngoài tầm mắt bé, ngoài tất cả mọi người. Anh về với thế giới anh hằng mơ tưởng lâu nay. Anh đã sửa soạn chuyến viễn du này từ hai tháng trước. Bé đừng vội ngạc nhiên hỏi tại sao anh ra đi. Thật ra, anh đã biết bé lâu hơn bé tưởng, chẳng phải từ buổi chiều mưa lất phất bé bị hư xe ấy đâu! Anh biết bé từ đầu niên khóa cơ. Anh đã nhìn bé, thấy bé từ một hành lang ở tầng hai lầu C bệnh viện. Nhìn thấy bé mỗi sáng mỗi chiều mỗi trưa bé đạp xe đi học ngang qua. Chắc chắn chưa bao giờ bé ngờ rằng có một người, một kẻ thường buồn bã nhìn trộm mình từ một hành lang bệnh viện? Chỗ anh “ở” gần sát con đường bé tới trường, chỉ ngăn cách bởi lớp rào kẽm cao mắc tràn dây leo bông tầm xuân; bởi vậy anh nhìn thật rõ bé. Có lần ngang qua bé tíu tít nói cười với mấy cô bạn; có nhiều hôm bé chỉ đi một mình, nét mặt tư lự buồn buồn – những hôm nhìn nét mặt buồn của bé như thế anh nhủ thầm: “Có lẽ hôm nay cô bé không thuộc bài? có lẽ cô bé vừa bị cô giáo phạt? có lẽ hôm nay cô bé làm bài tập không xong?…”. Anh tự hỏi, đại loại những câu lẩm cẩm như thế và lắng nghe lòng mình nhen lửa ấm. Hình ảnh bé bỏng của bé; đôi mắt, cái miệng chúm của bé là gốc là ngọn nguồn những niềm vui quí hiếm của anh. Những ngày chủ nhật là những ngày vui thú của nhân loại ngoài phố. Những ngày chủ nhật và ngày lễ đối với anh lại là ngày dài nhất, buồn tẻ nhất, hoang vu nhất. Vì răng bé biết không? – Vì những ngày đó bé nghỉ học; bé không đạp xe ngang qua chỗ anh, anh chẳng được nhìn thấy bé. Thật là xấu xa, có khi anh cảm thấy hơi ghen ghen nghĩ rằng vào những hôm nghỉ học như thế bé đang mặc áo đẹp, đang nói cười tung tăng chen chúc giữa phố đông trong lúc anh lại buồn rầu vò võ một mình. Nghĩ vậy, ghen vậy thật là xấu phải không bé? Thật là ích kỷ, rất là vô duyên phải không bé? Vô duyên vì anh có quen biết, có liên hệ gì tới bé đâu mà có quyền ghen hờn như thế kia! Anh thật tệ quá nhỉ?

Mỗi đêm vào giường anh đều mơ ước được thấy bé trong giấc ngủ; có vài lần anh được toại nguyện. Giấc mơ thường tới với anh trước lúc hừng đông, lúc gần về sáng, bởi từ khoảng đầu hôm tới quá nửa đêm anh thường không nhắm mắt được vì căn bệnh nó hành. Anh mơ thấy bé qua nhiều hình ảnh tuyệt đẹp: Có lúc bé mang vóc dáng yêu kiều của một nàng tiên lè kè cắp sách ước trong tay. Có lúc bé mang khuôn mặt thánh thiện nghiêm trang dịu dàng của một nữ tu ôm thánh kinh lang thang dưới những rặng cây trên lối dẫn vào nhà thờ (ngôi thánh đường chênh vênh cuối mút một dốc đứng mênh mông mưa mù nào đó). Có lúc bé mang khuôn mặt buồn rười rượi của một thiếu nữ lang thang qua khắp trận địa ngùn ngụt lửa khói ngu ngơ thăm hỏi, tìm kiếm người thương. Có lúc bé mang hết vẻ tươi thắm hồn nhiên của một bông thược dược nở hết cánh ngậm hé sương mai… Nhưng chắc chắn chưa có lần nào anh mơ thấy bé qua hình dạng dị hợm của những lọ thuốc anh phải chích mỗi ngày; chưa bao giờ anh mơ thấy bé qua những khuôn mặt nhàm chán của các cô khán hộ ở đây. Dẫu trong giấc mơ bé có thay hình đổi dạng, thiên biến vạn hóa qua bao nhiêu hình thái khác anh vẫn nhìn ra, vẫn thấy đó là bé, là bé trong tâm thức lãng đãng của anh, là bé, là hình ảnh tuyệt vời, là ánh sáng, là trăng suông chiếu dọi vào huyệt thẳm trong anh. Chắc bé sẽ cho là anh nói quá: không đâu, anh dối gạt bé làm gì. Ai lại đi nói dối với một cô bé trắng trong phúc hậu thế kia.

Viết tới đây anh bỗng nhớ tới một câu thơ của người nào đó, thơ hay ca dao nhỉ? Thơ hay ca dao gì thì lúc này nó cũng đã hiện rõ trong trí anh rồi, anh phải viết. Cái câu ấy thế này: “lòng anh như hoa hướng dương, trăm nghìn đổ lại một phương mặt trời”. Vâng, chính bé là phương mặt trời của anh. Còn anh? Anh không bằng được một cánh hoa hướng dương đâu. Anh chỉ là một con bệnh.

Một con bệnh. Phải rồi, một con người được sinh ra với một dung lượng máu huyết, một khối thể thịt xương, một trái tim và một khối óc như hàng triệu triệu kẻ khác trong cái tập thể lúc nhúc chen lấn trên cái mặt đất này. Chỉ có khác là: ngoài quá khứ ước mơ buồn vui hạnh phúc lo âu mà một con người phải ôm cầm để đi qua đời mình anh còn đeo mang một căn bệnh. Một thứ bệnh truyền kiếp, âm thầm sinh sôi nảy nở đâu từ thiên thu âm u vạn kiếp trong tối tăm xương tủy và, một ngày nó bỗng lên tiếng, bắt anh phải chấp nhận sự có mặt của nó. Bé đừng thắc mắc hay tò mò muốn biết anh đang mắc bệnh gì. Ung thư? Lao phổi? Lao xương? Phung hủi?… Không, đừng bao giờ thắc mắc như vậy; bé chỉ nên biết anh đang mắc một thứ bệnh nan y là được rồi. Chính danh của căn bệnh lắm lúc anh chẳng còn nhớ nữa, vì anh đeo đẳng nó quá lâu, từ gần năm năm nay. Mỗi ngày nó càng toát cái mùi chết chóc khốc liệt, và mỗi ngày anh bớt tuyệt vọng hơn. Nỗi tuyệt vọng thật là lớn lao những ngày đầu anh mới phát giác ra mình mắc trọng bệnh. Có lúc anh và tuyệt vọng thỏa hiệp với nhau; có lúc gầm gừ nhau, có lúc lại tốc tả cấu xé nhau. Anh và nó rình nhau trên từng tế bào, trên từng giọt máu, trong từng ô vuông không khí hít thở. Cơn bệnh, hàng triệu vi trùng dàn hàng dọc hàng ngang, chia hình rẻ quạt tấn công chiếm đóng luồn lỏi trong anh mỗi phút mỗi giờ. Đêm đêm anh nằm nghe cuộc chiến ấy sôi sục nôn nả, tưởng chừng như nghe rõ bước vi trùng đi, từng đời tế bào chết, từng huyết cầu bị phanh thây, từng chút tủy vữa ra trong mỗi ống xương rũ liệt. Đêm đêm anh nằm nghe lũ chúng nó gọi tên mình, chúng đọc bản án tử hình, bản án không ghi ngày hành quyết, bản án tuyên đọc bằng giọng hùng hồn vô âm sắc, nhưng nó vang dội khắp bốn vách da thịt anh, bắt anh rùng mình, bắt anh ớn lạnh.

À này, bé đã đọc Hán Sở Tranh Hùng chưa nhỉ? Nếu đọc rồi hẳn bé biết ông Hạng Vũ và điển trích “Trướng trung khỉ vũ”. Hạng Vũ giành thiên hạ với Lưu Bang, trong trăm trận đánh, Hạng Vũ đều thắng, nhưng cuối cùng thì bị quân Lưu Bang vây kín bốn mặt. Vũ ở trong mùng uống rượu với thiếp là Ngu Cơ, rút gươm dậy múa, vừa khóc vừa hát. Về sau, nói đến anh hùng mạt lộ người ta thường nhắc đến truyện này mà gọi là “Trướng trung khỉ vũ”, dậy múa trong mùng. Anh chàng Hạng Vũ này hay ghê, ngông ngạo ghê! Quả đáng mặt anh hùng lắm. Bị quân thù vây kín bốn phía, trùng trùng gươm giáo, điệp điệp lửa binh vẫn tỉnh như không, vẫn uống rượu múa gươm cận kề cùng người đẹp, dù chỉ là vung gươm múa kiếm trong mùng. Anh thích cái cung cách uy dũng khác thường của anh chàng Hạng Vũ này lắm, nên nhiều lúc cũng tự ví mình như Hạng Vũ bị vây kín giữa muôn ức kẻ thù. Kẻ thù của Vũ ở ngoài Vũ; kẻ thù anh thì ở ngay trong tim cật anh. Anh và Vũ cùng mạt lộ. Vũ cùng đường còn có nàng Ngu Cơ bầu bạn, chuốc rượu tiêu sầu. Vũ còn gươm để múa. Còn anh? Anh chẳng còn gì khác ngoài hình ảnh bé, ngoài những nỗi buồn không biết nói ai nghe, những đêm lạnh dài những ngày nắng mệt. Kẻ uy dũng như Vũ vừa múa gươm vừa hát vừa khóc thật thay, huống hồ anh, anh chẳng có một tí ti uy dũng nào cả; nhưng anh không khóc, không hát, chẳng múa may trong mùng; anh trơ lì như cục đá mài, mài mòn chăn mòn chiếu, mòn sức mòn hơi, mài một chập e đời tròn hơn hòn bi.

May sao anh còn có một nguồn tinh lực nào đó thật vô biên kỳ bí đã ngăn không cho đạo quân dã man kia xâm luợc vào não tủy, chất xám và chất trắng anh còn nguyên, nên óc vẫn còn điều khiển được mắt nhìn rõ bé, môi thỉnh thoảng còn nắn được nụ cười và tay chân chưa rũ quÿ.

Tay chân chưa rũ quÿ nên anh còn thèm đi. Bốn tường rào bệnh viện từ lâu dưới mắt anh chúng đã biến thành tường vách của một nhà tù. Lão gác cổng già khọm là lão cai tù bất đắc dĩ và những lọ thuốc, những viên thuốc đủ màu mỗi ngày anh nhận là những ân huệ những món quà phỉnh phờ, chúng có nghĩa như những lời rửa tội ban phát từ ông cố đạo cho một tên tội đồ trước lúc bình minh, trước giờ mạng vong của hắn.

Vì sự đôi khi nhầm lẫn giữa mình và một tên tử tù nên nhiều buổi sáng chợt thức, chợt nhìn vệt nắng non mon men qua khe cửa anh mừng rỡ thật tình nghĩ mình còn được sống. Anh vội vã bước xuống giường như một kẻ bình thường, khi chân vừa chạm mặt sàn lạnh ngắt, cái lạnh giá truyền từ mặt sàn xi măng vào cơ thể anh đã đánh thức cơn bệnh dậy, anh buồn bã nhìn vệt nắng không còn với mắt của một kẻ bình thường được nữa. Anh phải nhớ nó, phải luôn nhớ đến cuộc chiến tàn khốc âm ỉ trong anh.

Giữa không khí ngộp thở do cuộc chiến ấy liên lỉ tiết ra, bóng dáng tươi mát thần tiên của bé bỗng đến với anh. Mỗi ngày anh đều thấy bé ngang qua, tâm hồn anh chợt dâng chợt rút theo mỗi bận đi về của bé. Rồi một bữa anh nôn nao, anh bị thôi thúc bởi ý tưởng nhất định phải biết tên bé cho bằng được. Phải rồi, phải biết tên người mình hằng yêu dấu chứ! Biết hỏi ai bây giờ? Anh nghĩ quẩn nghĩ quanh, cuối cùng vụt nhớ tới ông già gác cổng, cái ông già lọm khọm ấy. Anh dò hỏi và biết được ông ta thường hút thuốc Ruby Queen, anh bèn nhờ người quen mua ngay mười gói; ông già hơi ngạc nhiên khi thấy anh chìa thuốc đưa biếu ông ta, nhưng ông không ngạc nhiên lâu, vì sau đó anh ngỏ lời mượn chiếc xe còi cọc của ông. Ông già vậy mà dễ chịu ghê, ông đồng ý liền sau khi nghe anh long trọng hứa: cháu sẽ đi một vòng rồi đem trả bác ngay. Do đó buổi chiều mưa lất phất ấy anh đã đi theo bé, lúc rời cổng bệnh viện anh sắp đặt khá nhiều ý tưởng để nói với bé, nhưng khi chạm mặt không biết bởi lý do nào anh chỉ nói cái câu ngớ ngẩn nọ, câu đó chắc bé còn nhớ chứ? Anh biết bé giận lắm, môi bé mím chặt, mắt bé long lên lúc đứng trong tiệm xe chờ nối lại sợi sên đứt. Chắc bé không ngờ rằng anh đã kín đáo đọc cái bảng tên thêu chỉ màu xanh đính bên ngực trái áo bé. Tịnh Hiếu, chiều hôm đó trên đường trở lại bệnh viện anh không ngớt gọi thầm tên bé trong tâm tưởng. Môi anh vừa có cái tên êm đềm để gọi. Cái tên, ôi huyền nhiệm làm sao! Anh gọi thật khẽ cái tên ấy mỗi lần bé ngang qua, bé có nghe thấy không nhỉ?

Từ hôm làm quen được ông già gác cổng, anh thường mượn xe của lão đạp rong mỗi buổi chiều, anh tìm những con đường vắng người nhất, đi chầm chậm và vẩn vơ buồn, vẩn vơ nhìn bóng lá cành chim. Vào một buổi chiều đi vẩn vơ như thế anh đã bí mật theo dõi bé và biết căn nhà bé đang ở. Sau đó như bé đã biết, anh đã tìm tới; lúc dựng xe bước vào sân, anh thoáng thấy bé sau lần kính cửa sổ, nhưng bé trốn, bé chẳng muốn gặp anh, anh trở về mà lòng buồn bã vô hạn. “Buồn muốn vữa tan thành nước bốc hơi thành mây bay đi cho rồi”.

Hôm gặp bé trong tiệc cưới anh mừng khôn xiết kể. Nhưng anh đã không nói với bé được điều gì cho ra hồn. Ra khỏi thế giới buồn tẻ cô lập thăm thẳm yên lặng của mình để tới những nơi đông đảo tiếng cười nói như thế, thần trí anh thường trở chứng bất thường, nó lỏng bỏng, trống tênh một cách kỳ dị nên anh đã không nói được gì với bé. Anh không nói được gì với bé nhưng nhìn đôi mắt bé anh chợt hiểu, chợt thấy hình ảnh anh long lanh trong đó, ít ra anh cũng có chút gì trong tâm hồn bé rồi phải không?

Cảm ơn bé đã cho anh những giấc mơ tuyệt vời, đã cho anh niềm vui được nhìn bé mỗi ngày ngang qua con đường trống trải buồn thiu ấy. Anh không thể trì hoãn chuyến đi này, anh đã dự tính lâu lắm rồi, trước cả lúc gặp bé nữa cơ. Khi bé trải rộng thư này dưới tầm mắt nhung nai của bé thì anh đã không còn trong thành phố ni nữa, không còn thở chung bầu khí hậu nồng nàn bé đang thở nữa. Anh đã bỏ đi xa, rất xa, tận thế giới nào đó ngoài đời sống bé, ngoài tất cả mọi người, ngoài bệnh tật, ngoài tai ương, ngoài mặt trời, ngoài mặt trăng, ngoài những sớm mai hạ hồng thu lục đông xám xuân xanh, ngoài những tà huy phai, ngoài những khuya khoắt sao sương buồn lạnh, ngoài hết, ngoài tất. Anh về với thế giới cõi miền anh hằng mơ tưởng. Nói rõ hơn, nói trắng ra là anh không thể đùa bỡn với hình ảnh cái chết rập rình quanh anh mãi được, anh phải phóng thẳng vào nó, phải chiếm đoạt nó trước khi nó quật ngã anh như con bò rừng điên tiết húc đầu vào miếng vải đỏ trên tay người giác đấu. Con bò rừng thì điên tiết nhưng anh thì rất tỉnh táo. Anh sẽ giữ mãi hình ảnh sáng rỡ dịu hiền của bé: hành lý duy nhất anh mang theo trong chuyến đi này.

Ban đầu anh định gửi bé tập truyện ngắn anh viết từ lâu nay. Cuốn truyện của đêm tối và bệnh tật; nhưng khi đọc lại tự cảm thấy không cách gì bé hiểu nổi những gì anh viết. Hơn nữa anh chẳng muốn tâm hồn sáng trăng của bé bị nhiễm độc bởi những chữ và những ý quái gở nhất trên cõi đời này. Vì răng bé biết không? Những nhân vật anh tạo ra phần lớn không điên thì cũng dại, không dại thì cũng khùng. Lâu nay anh đã sống với đám nhân vật đó một cách thiết tha, bởi mỗi nhân vật đều được anh chia xớt cho một khẩu phần buồn khổ. Một tập truyện hắc ám như thế không thể để cho một cô bé mười bảy tuổi (Anh đoán chừng bé cỡ mười bảy tuổi, nếu nhiều hơn thì cũng chỉ mười bảy rưỡi thôi) đọc được. Anh đã quyết định biến nó thành cát bụi; chỉ cần một que diêm, nhân vật trong những truyện rối nùi của anh được siêu hóa hết.

Bây giờ chẳng có kỷ vật nào gửi tặng bé, ngoài tờ thư này. Bé có thể coi đây là chúc thư của người anh, một người bạn của bé. Dẫu sao khi đọc xong anh cũng mong bé đi lại con đường ngang qua khu bệnh viện buồn thảm ấy. Ước mong bé sẽ mặc áo trắng, đi bộ; phải rồi bé phải đi bộ đến đó thong thả nhởn nhơ như người đi dạo mát vậy. Lúc tới ngang chỗ anh “ở” (bé biết rồi chứ gì? – tầng 2 lầu C) xin bé hãy ngước nhìn lên cái hành lang trống trải ấy. Hành lang, nơi anh thường dõi mắt đăm đăm trông theo dáng bé. Bé nên đi vào buổi chiều. Dĩ nhiên bây giờ anh không còn đó nữa, và chẳng còn đôi mắt si dại nào nhìn xuống bé nữa cả. Bé tới đó và lặng nhìn lên thăm giùm anh cái chỗ đứng lạnh lẽo ấy, chỉ có vậy thôi. Chắc bé không nỡ từ chối phải không?

Gửi lời chào Huế, chào con đường buồn thiu, chào mặt trời, mặt trăng, dòng sông rực nắng, điện đài hoang mốc và những hàng cây reo gió buồn thiu. Anh đi đây. Chúc bé ở lại hạnh phúc và an vui đời đời.

Tờ thư chấm dứt bằng một chữ ký ngắn, gọn, không ghi rõ họ tên. Tờ thư Hiếu nhận được vào chiều thứ năm – chiều nghỉ học thường lệ trong tuần. Lúc thấy người phát thư đi xăm xăm vào sân, không biết do linh tính nào Hiếu biết ngay là thư của mình, có lẽ do sự trông đợi quá chăng? Hiếu ẵm cái thư vào phòng đóng kín cửa, hồi hộp bóc ra, trải rộng trên đùi, và đọc. Đọc tới chữ cuối, lệ Hiếu thi nhau mưa xuống những trang giấy pelure mỏng dính. Hiếu run rẩy cất nó vào ngăn kéo và tự hỏi không biết mình đang khổ hay đang sầu đây? Thường ngày Hiếu ăn hết ba chén cơm, chiều nay chỉ ăn có mỗi một chén Hiếu đã thấy no tận mang tai, Hiếu cảm tưởng có cái chi đó nghèn nghẹn vương vướng trong cổ bắt Hiếu bỏ chén xuống không ăn được nữa. Mẹ hỏi răng ăn ít? Hiếu đáp gọn lỏn con nhức đầu rồi bưng ly nước trà nóng và hai viên thuốc cảm vào phòng mình rồi đóng chặt cửa. Hơn bao giờ hết, lúc này Hiếu chỉ thích bóng chiếc một mình.

Đêm đó trước khi ngủ Hiếu đọc lại thư lần nữa, đọc chầm chậm từ từ không bỏ sót một chữ một câu; nhiều câu Hiếu đọc lui tới hai ba lần. Hiếu vận dụng trí nhớ cố mường tượng lại khuôn mặt chàng nhưng chẳng thể được, óc Hiếu đông cứng và trong suốt như miếng chè đông sương không màu. Hiếu lên giường ngủ, luồn tờ thư vào trong áo, những trang giấy mỏng manh được truyền hơi ấm từ hai miếng ngực non thơm tuổi mười bảy của Hiếu. Những trang thư theo Hiếu ngủ vùi. Giấc ngủ trộn lỏng những lệ.

*

*   *

Chiều hôm sau Hiếu bỏ học, theo lời dặn trong chúc thư của anh-chàng-ký-tên-không-rõ, Hiếu mặc áo trắng đi bộ tới con đường ngang qua khu bệnh viện buồn thảm ấy.

Hai hàng cây muối bên đường chiều nay rung rinh bay múa nắng vui. Hiếu thì ngược lại, hồn Hiếu giăng mắc một mảnh: mảnh trời mênh mông mỏng tợ cánh gián tím loãng trong hồn Hiếu không bờ. Khi ngang qua chỗ chàng “ở”, Hiếu dừng lại len lén ngước mắt trộm nhìn lên, dãy hành lang trắng lạnh vắng ngắt chót vót trên cao bỗng đổ ào băng giá xuống, Hiếu khẽ rùng mình qua cơn chấn động ngắn, Hiếu cúi đầu bước nhanh mơ hồ nghe khóe nhìn lạnh băng của kẻ chết trẻ bám riết sau gáy.

Một gã con trai nãy giờ ẩn mình bên sau gốc phượng xế cổng bệnh viện lẳng lặng nhìn Hiếu đi qua. Gốc phượng vĩ khá lớn nên Hiếu không hề phát giác thấy đôi mắt đăm đăm của gã. Đợi Hiếu đi khỏi chừng năm chục bước nữa, gã dời chỗ đứng rảo bước đuổi theo. Hiếu bỗng quay phắt lại bởi tiếng gọi giật giọng của gã con trai. Lúc bốn mắt gặp gỡ nhau, mặt đối mặt, Hiếu kêu lên bốn tiếng hốt hoảng yếu xịu:

– Ủa, anh đó à?

Gã con trai cười bỡn cợt tự nhiên:

– Hiếu diễn xuất khá lắm, rất đúng vai trò trong vở kịch của anh.

Hiếu vừa mừng vừa giận vừa thẹn thùng đỏ au đôi má. Hiếu mím môi muốn xấn tới tát vào cái mặt nhơn nhơn đùa bỡn nhưng khi chạm phải tia nhìn dịu dàng xa xăm của gã Hiếu chùn chân.

– Anh quá quắt lắm, làm Hiếu sợ hết hồn.

– Hiếu nhận được cái thư khốc liệt ấy rồi phải không?

– Chưa nhận, muốn phát ốm từ hai hôm nay thôi; ông Hạng Vũ, tên tử tù chưa tịch à?

Khoé mắt của gã vừa dại vừa dài thả xuống cái nốt ruồi bên miệng Hiếu.

– Từ khi gửi cái thư đi anh hồi hộp lạ thường. Không biết bé nghĩ chi về cái thư ly kỳ trường thiên tiểu thuyết đó. Nhưng chừ thì rõ ràng là bé thua anh rồi, trò chơi khá hấp dẫn hí?

– Anh viết thảm thiết rứa ai không tin nổi, nhất là đứa nhẹ vía như tôi lại càng tin gấp rút, tin không can nổi. Anh đang mắc cái bệnh nan y gì đó?

– Bệnh đùa nghịch kinh niên. Bệnh si tình và bệnh ưa làm người khác thót tim chơi. – Gã con trai nói không chần chờ, không suy gẫm, trơn tru như thể miệng gã có bôi mỡ. Hiếu vê nỗi tò mò bẩm sinh thành nụ cười tròn.

– Anh ở trên cái hành lang mắc dịch ấy thiệt hả?

– Không có, một bữa đến thăm ông chú ôm bệnh ung thư gan nằm trên tầng lầu đó, đang đứng nói chuyện với ông anh chợt thấy bé ngang qua, anh bèn nảy ra ý viết tờ thư ấy vừa để ném viên sỏi thăm dò lòng dạ “người ta” ra răng vừa đùa bé tí chơi.

Gã dứt tiếng, Hiếu quắc mắt lườm rồi Hiếu ngầm vắt chanh pha giấm vào ngôn ngữ:

– Xin kính bái cái chiến thuật tuyệt kỹ công phu của anh nhưng tôi không muốn làm kẻ mắc lừa, một con thú mắc bẫy, một con cá mắc lưới. A, lúc ni tôi mới nhớ anh khoe anh có viết cuốn truyện chi đó mà gọi là của bóng tối thui và bệnh tật; té ra anh viết văn hả? Mấy trự viết văn là chúa láo lếu mơ hồ, chúa bông lông ba la chi xứ, anh Toàn tôi có lần bảo thế, anh ấy còn dặn thêm gặp mấy trự này thì phải mau mau tránh xa, nhưng anh đừng lầm tôi bở, anh có biết câu người xưa thường nói con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu?

Lòng tự ái bị sút một cú đá đau, gã con trai bối rối thụt lùi nửa bước, hít một hơi dài không khí căng hai buồng phổi đàn áp cơn xúc động thình lình vừa từ thinh không rơi xuống, vừa từ miệng Hiếu vọt ra.

– Anh là kẻ chiến thắng không xứng được quàng tặng một vòng hoa, dù là vòng hoa xấu xí nhất, toàn cả hoa mắc cỡ với hoa mồng gà, hẳn thế. Nhưng bé chưa là con thú mắc bẫy mắc lừa, bé nói quá; tội cho anh, tội với trời đất. Bé đã châm biếm cho rằng anh đã xài cái gọi là tuyệt kỹ công phu để hạ bé! Không, chẳng qua vì anh thương bé, mến bé, anh hóa dại, anh đổ liều…

Hiếu nóng nảy ngắt ngang:

– Thôi thôi anh đừng diễn thuyết, đừng tự thán nữa. Dù răng tôi cũng đã mắc một chân trong cái bẫy của anh rồi, khó lòng mà đào tẩu.

Giọng Hiếu mềm như sợi bún gạo khiến gã nghĩ Hiếu sắp khóc tới nơi, gã bối rối đứng không yên. Hai chân gã tợ hai cây kim đồng hồ hư dây cót xê dịch bậy. Hiếu cúi đầu thinh lặng; lúc ngước lên mắt Hiếu bị lôi cuốn bởi vẻ tươi sáng nồng nàn bướng bỉnh trong mắt gã, cảm thấy mình vừa xài xể gã không còn manh giáp nào cả, Hiếu bỗng cầm lòng không đậu, Hiếu cười nửa nụ.

Gã trai thấy Hiếu cười vội lanh tay chụp lấy cơ hội dàn hòa:

– Hết giận rồi nhé!

– Còn! – Hiếu giáng một tiếng cộc lốc.

– Thôi chừ về chứ, bộ cô muốn đứng làm pho-tượng-căm-hờn-phẫn-nộ ở ngã ba đường cái ni hả?

Hiếu nói như hạ lệnh:

– Trên đường về anh phải đi cách xa tôi mười bước, không quay lui, cấm ngó xiên ngó xéo, chỉ ngó hướng trước mặt mà đi.

Gã nhìn Hiếu cười cợt: chà khó quá há; rồi gã quay lưng bước đi hát trên đường về nhớ đầy, chiều chậm đưa chân ngày, tiếng buồn vang trong mây, tiếng buồn vang trong mây…Tiếng “mây” vừa dứt hơi, gã quay lại:

– Theo điều kiện của bé anh sẽ đi trước bé cách mười bước, nghĩa là không đi ngang hàng với bé, vậy lúc nào nguôi giận yêu cầu bé huýt gió thật lớn bài Ngậm ngùi báo cho anh biết để anh quay lui nghe.

Hiếu lườm bằng vẻ đẹp của đôi mắt cọp dữ:

– Anh lại ăn nói ẩu tả nữa, con gái ai lại đi huýt gió ngoài đường, bộ anh tưởng tôi là công dân của nước Cộng hòa Híp-pi hả?

Gã cười giòn như bánh tráng nướng:

– Xin cho anh thật thà xin lỗi, thôi thì khi nào nguôi giận yêu cầu bé ho ba tiếng cho anh biết anh mừng. Đồng ý chứ?

– Đồng ý một nửa, chỉ ho một tiếng rưỡi thôi.

 Hứa như vậy nhưng suốt quãng đường về tới nhà Hiếu ngậm miệng không ho. Hiếu rắp tâm giận anh chàng đúng một tuần lễ cho bõ ghét.

M.M