NGỤY NGỮ
VÀI DÒNG*

Vắng đi khá lâu chợt đạo diễn Hồ Quang Minh lại điện thoại cho tôi bảo vừa ở Pháp về, có ít sách báo,có mấy người bạn muốn gặp, hẹn cà phê. Sách báo điện ảnh. Mấy người bạn đều dân miền Nam du học Âu Mỹ xa gần trước năm 1975, trong số ấy có Trương Sỹ Đức, kỹ sư, hiện đang là ông giáo trung học ở Thụy Sỹ, người tôi đã vài lần gặp. Ăn sáng, cà phê, rề rà chuyện ta chuyện tây, Đức lại nhắc tới Mường Mán: Làm sao gặp ảnh? Thì ra không chỉ Đức mà cả mấy người bạn kia đều vậy: Làm sao gặp anh Mường Mán? Trước, Đức đã hỏi, nhưng khi thì Mường Mán còn ở Cần Thơ, khi thì Mường Mán đã lên Sài Gòn nhưng nhà quá xa, giờ thì không chỉ có quán gần mà còn điện thoại không thiếu. Tôi gọi, hẹn. Thẫm chiều, đúng hẹn, bên bàn rượu tất cả đủ mặt. Rượu vào lời ra. Và lời ra gần như tất cả đều là thơ Mường Mán. Họ say sưa nhắc đọc những bài thơ họ thuộc từ thời trung học xa lắc. Mường Mán ngồi lim dim gật gù nghe những người tóc hoa râm nói nhiều thứ giọng, và mang nhiều quốc tịch khác nhau ấy đọc thơ của mình.
.
Cách mấy hôm sau đó, tôi tình cờ gặp ông bạn nhà giáo già văn võ kiêm toàn Nguyễn Văn Dũng vừa từ Huế vào, và được anh rủ đi Đà Lạt chơi. Tại Đà Lạt, là thầy giáo võ, anh được cả trăm võ sinh nghiêm cẩn đón trong dịp thi lên đai lên đẳng, là thầy giáo văn anh được một người học trò thành đạt là ông giám đốcsở Giao thông Hứa Văn Tuấn đón. Nghe anh Dũng giới thiệu tôi, Tuấn hỏi qua chuyện phim ảnh mà rõ ràng cả anh ta và tôi chẳng thích gì rồi hỏi ngay tới người anh ta thích và biết tôi là chỗ quen thân: Anh Mường Mán dạo này sao anh? Như Đức, Tuấn là kỹ sư, thích thơ văn chỉ hơi lạ: Không rành chữ Hán nhưng Tuấn lại rành thơ Đường, thuộc hàng trăm bài, đọc đúng từng chữ cả những bài ít thấy trong các sách dịch thơ Đường.
.
Vừa thấy bản thảo tập thơ Mường Mán ghé đưa, tôi nhớ ngay Đức và Tuấn bởi đơn giản tôi mới gặp lại Tuấn. Và nhớ tới Tuấn, Đức tôi lại nhớ những người khác – những người yêu thơ Mường Mán. Khá nhiều. Với tất cả họ, thơ Mường Mán đã là một phần của tuổi thanh xuân cần được nâng niu giữ gìn của họ. Có người tới già vẫn chưa gặp Mường Mán. Có người vốn đã là bạn Mường Mán từ lâu – người là bạn trung học, đại học, bạn cùng quê, cùng xóm trọ, người là bạn viết lách, bạn thợ thầy… Với những người quen cả Mường Mán và tôi thì gần như cứ nghe nhắc tới Mường Mán là tôi lại bị hỏi: Sao hai người thân nhau mà lại khác nhau quá vậy?
.
Thân. Đúng. Huế, nơi Hoàng Ngọc Tuấn vui vẻ bảo mọi người đều quen nhau, và Trịnh Công Sơn bảo có vẻ mọi người đều có họ hàng với nhau, tôi không nhớ được tôi quen thân với Mường Mán cũng như với nhiều người khác từ bao giờ. Chung những đường phố, những quán xá, chung bạn bè (bao nhiêu người đã chết và còn sống ở trong, ngoài nước). Chung bao nhiêu kỉ niệm, bao nhiêu tờ báo cùng viết, bao nhiêu lần đỡ đần cho nhau qua khốn khó… Chung đến vậy không thân còn gì. Ngay trong tập thơ này Mường Mán cũng cho thấy điều ấy: Tôi là người bạn duy nhất được Mường Mán tặng thơ. Và khác, cũng vậy. Vóc dạng khác đến áo quần không thể tạm mặc nhờ. Thời trẻ, một, là tôi, thích rong ruổi; một, là Mường Mán, thích yên thân cố xứ. Tuổi già, một, sáng sáng vẫn bình thường cà phê thuốc lá và chiều chiều vẫn lai rai vài cốc; một, chăm bẳm theo lời bác sĩ, tránh xa thuốc lá và rượu – dù chính mình đang là ông chủ một quán ăn khá đắt khách, đó là quán Ruốc ở Phú Nhuận, nơi thỉnh thoảng tôi vẫn ghé gặp bạn bè, nơi thỉnh thoảng tới lui của Đoàn Thạch Biền, Nguyễn Khắc Nhượng, Lê Cung Bắc, Nguyễn Hồ, Nguyễn Đông Thức… Những khuôn mặt vốn quá thân thuộc từ cuối thế kỷ 20 và cả những khuôn mặt già trẻ mới toanh của thế kỷ 21: Bùi Văn Nam Sơn, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Quốc Hưng…
.
Rồi, chung việc viết lách, chúng tôi lại khác nữa: Một, từ lâu vẫn coi tất cả những gì mình viết ra, dù được viết với sự cẩn thận hay cẩu thả tới đâu chăng nữa thì cũng đều đã là của hôm qua, thì nên cho qua luôn để đỡ bận lòng; một, lại không chỉ chăm chút những cái mới viết mà còn chẳng tiếc công lật tìm sắp xếp những cái đã viết từ thời nảo thời nào.
.
Nhờ sự chăm chút và không tiếc công ấy của Mường Mán chúng ta đang có tập thơ này.
.
Nhờ có tập thơ này tôi có dịp đọc lại nhiều bài thơ cũ của Mường Mán, trong số ấy có bài “Nhịp sáu tám cho mùa thu nước lũ”, bài thơ được viết sau ngày cầu Trường Tiền gãy trong vụ Mậu Thân và được in lần đầu trên tờ báo rô-nê-ô của một nhóm sinh viên đấu tranh ở Huế. Nếu đặt cạnh những bài hát, bài thơ, và những truyện ngắn, truyện dài của những người khác cùng viết về những ngày tháng đầy tiếng động chói chang ấy, (như Hát trên những xác người, Chuyện một chiếc cầu đã gãy, hay Ngôi sao trên đỉnh Phú Văn Lâu chẳng hạn), bài thơ của Mường Mán ở hẳn một chỗ rất riêng: lạ hoắc. Có lẽ cũng vì cái lạ hoắc ấy mà chú em tôi, một ông giáo bỏ nghề, hiện đang là một nhà báo, người cùng lứa với Đức và Tuấn, đã có thể nâng ly mừng Mường Mán sang tuổi sáu mươi và đọc trọn cả bài – dĩ nhiên là hoàn toàn theo trí nhớ.
.
Còn tôi thì đang đọc thơ Mường Mán tặng tôi: Xuân sang chưa kịp chuyến đò. Bóng thu đông đã rợp bến nhau…

N.N.
.

MƯỜNG MÁN
NHỊP SÁU TÁM CHO MÙA THU NƯỚC LŨ

cuối cơn mưa đó tôi về
so vai nghe nặng bốn bề nước mây
phương ni khói lẳng lơ bay
ôi em phương nớ có hay mơ mòng
bây giờ cầu gãy ngang sông
nước trăm mùa đọng nuối dòng đá trôi
nụ cười nào ở với môi
cảnh tôi lồng với cảnh người lấm lem
ngày tàn rồi đó thưa em
nhịp mưa kề sát tim đêm ru hời
quê hương ruộng núi dốc đồi
ngủ đi em nhé dưới trời bao la
một thương tóc bỏ đuôi gà
hai thương ăn nói mặn mà có duyên…**
cắn ngang môi ngọn tóc tiên
van đêm thơm suốt trăm miền em qua
van sông nối vạn bờ xa
cho lê bén lựu cho cà bén tương
ở đây thiếu nắng thiên đường
xương vây thịt lấp lót giường nhân gian
thôi em gắng ngủ cho ngoan
dang tay che kín đạn bom trong lòng
khơi tim máu chảy cùng sông
ủ tình hương lửa ươm hồng mối mơ
ở trên núi có cha chờ
trong khuya khoắc có mẹ ngơ ngẩn cười
khi ôm râu tóc xuống đời
ơn cha nghĩa mẹ ngậm cười trong răng
đất khô này chốn ăn nằm
gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau***
về đây lấy đá gối đầu
lấy mây đắp mặt lấy sầu che tay
mưa bay trên đỉnh hồn này
nghe đời chợt rộng nghìn ngày sắc không
về đâu cái tuổi xuân nồng
tôi bôi mặt lạ nhủ lòng sống vui
về đâu cái tuổi ngậm ngùi
mượn kinh cứu rỗi nối lời du ca
tôi muối tôi mặn thật thà
bao giờ giã tật mơ xa mộng gần
cõng em qua thác trầm luân
ngửa lòng hứng chút trong ngần phù du
gọi em chín phố sương mù
bướm vàng khăn trắng chuyển thu vào hồn
lá vàng thu phố vàng hương
gọi hồn chim nhỏ qua truông thiên đường
ru em khúc hát mười thương
đưa em qua mấy đoạn trường Kiều nhi
tim suồng sã nhịp máu đi
hai mươi năm đó còn gì cho nhau
lửa đau tàu chuối buồng cau
máu xương đã cướp mất màu phù sa
ru em ngủ giấc ngọc ngà
mẹ còn lên núi tìm cha chưa về
đời buồn xin lấy tóc che
phận buồn xin sẻ xin chia cùng người
ầu ơ đưa nhau xuống đời
mây chìm đá nổi trong lời ai ru.

M.M/1968
Trích từ tập thơ Dịu Khúc.
* lời tựa tập thơ Dịu Khúc
**-***: ca dao.

IMG_1121img055